Tỉnh Dòng Đa Minh Việt Nam

Hoà Thạnh (Tây Ninh) - "Lều" anh em Đa Minh cắm nơi biên giới!

 

1. "Nhớ thuở khai hoang đi lập đất" :

Hưởng ứng chương trình về lại với ruộng đồng để xây dựng quê hương, năm 1987, Đức Giám mục Giáo phận Phú Cường đã cử Linh mục Tôma Nguyễn Toàn Quyền tham gia phong trào đưa dân đi vùng kinh tế mới tại Thành Long (thuộc xã Thành Long), Huyện Châu Thành, Tỉnh Tây Ninh.

Việc dãn dân không kết quả và do nhu cầu của Giáo phận, cuối năm 1990, Đức Giám mục rút cha Nguyễn Toàn Quyền  khỏi vùng kinh tế mới về coi Giáo xứ Gò Dầu.

Ngày 29 tháng 09 năm 1990, cha Phêrô Trần Văn Huấn O.P., phó xứ Cao Xá, được chính quyền chấp thuận và cho phép đến vùng kinh tế mới dâng lễ cho bà con giáo dân vào những dịp lễ trọng.

Trong vòng 7 năm (1990 – 1997), vào những ngày lễ trọng, cha Phê-rô động viên bà con giáo dân trung thành với đức tin và sống theo tôn chỉ “tốt đời đẹp đạo”.

Vì nhu cầu cần  có một nơi cố định để dâng Lễ và gặp gỡ bà con giáo dân dễ dàng là điều cần thiết, năm 1997, cha Phê-rô mua được thửa đất gần chợ Hòa Bình, Thành Long. Và tại đây, trước lễ Giáng sinh, chính quyền Tỉnh Tây Ninh cho phép làm một nhà lá tạm để dâng Lễ.

Cũng năm 1997, cha Phê-rô mua một khu đất (khoảng hơn 7.000 m2) tại xã Hòa Thạnh với mục đích làm lớp học tình thương và là nơi bà con giáo dân quy tụ đọc kinh, cầu nguyện; đây cũng là điểm gặp gỡ bà con giáo dân. Trong khoảng thời gian 7 năm (1990 – 1997), thỉnh thoảng mới có một vài Thánh Lễ vào những dịp đặc biệt như Giáng Sinh và Phục Sinh.

Mảnh đất mà cha Phê-rô mua cùng với tinh thần nhiệt tâm truyền giáo của ngài là nền tảng phát triển giáo điểm Hòa Thạnh, rồi Giáo họ Hòa Thạnh và thành giáo xứ Hòa Thạnh.

Vào thời điểm này (năm 1997), giáo điểm Hoà Thạnh (nay gọi là Giáo xứ Hoà Thạnh), gồm 2 xã Hoà Thạnh và Biên giới, có khoảng 30 hộ gia đình và khoảng 100 giáo dân.

Vì chính sách của Nhà Nước rất khắt khe với Đạo Công giáo, nên mỗi năm, chính quyền chỉ cho phép dâng lễ khoảng vài ba lần (lễ Giáng sinh, Tết và Phục sinh hoặc cử hành lễ an táng khi có người giáo dân qua đời), thậm chí có năm chỉ được dâng lễ an táng (nếu có người qua đời), còn tuyệt đối không được dâng lễ nào khác (dù là lễ Trọng buộc) ! Tuy không được phép dâng lễ thường xuyên, nhưng các cha và các thầy Dòng Đa Minh và ban truyền giáo giáo xứ Cao Xá, hàng tuần, vẫn cứ âm thầm đi thăm hỏi bà con, quy tụ bà con giáo dân đọc kinh (nhất là vào ngày Chúa nhật) tại nhà riêng một số gia đình giáo dân và dạy giáo lý cho các trẻ em xưng tội rước lễ, thêm sức, nhất là những người dự tòng học giáo lý để gia nhập Đạo… tại lớp học tình thương. Và số bà con giáo dân cứ ngày càng tăng đều đặn… Nhưng có những thời gian chính quyền địa phương theo dõi và gây khó dễ, thì lại tạm ngưng quy tụ đọc kinh và dạy giáo lý ! Vào dịp lễ Giáng sinh (cho đến năm 2005), hang đá cũng không được phép làm hoặc có làm thì cũng bị cấm và yêu cầu phá bỏ… !Kể từ Giáng sinh năm 2006, mới chính thức được tổ chức lễ Giáng sinh và làm hang đá.

Suốt nhiều năm bà con giáo dân phải sống trong hoàn cảnh thật khó khăn (vừa nghèo khổ, vừa bị cấm đoán sống đức tin), nhưng bà con vẫn nhiệt thành… Và vào những ngày lễ trọng, nếu chính quyền không cho các cha ở Cao Xá đến dâng lễ cho bà con giáo dân tại Hòa  Thạnh, thì lại phải thuê mướn xe chở bà con đi về các giáo xứ ở xa (Cao Xá hoặc Thành Long) để dự lễ.

Vì đường đi trong thời gian này khó khăn, nên vào những ngày mưa trơn trượt, hầu hết các cha và các thầy khi đi truyền giáo đều đã đo đường (bị té ngã ít là vài lần), dù đi xe cẩn thận (vì đường trơn trượt); có những lần bị chấn thương phải vài tuần mới khoẻ lại ! Có những thời điểm, khi đi dâng lễ vào buổi chiều gặp trời mưa, quãng đường đi từ cầu bến sỏi đến chợ Thành Long (khoảng 3,5 km) mất khoảng 30 phút (đường sình lầy, trơn trượt)! Dù khó khăn…, nhưng vì công việc mở mang Nước Chúa, các cha và các thầy vẫn sẵn sàng chấp nhận.

Đa số bà con giáo dân là dân sống ở Campuchia, vì hoàn cảnh sống khó khăn nên đã hồi hương về nước; một số bà con từ miền Bắc và miền Trung vào lập nghiệp. Họ sinh sống trên một địa bàn mênh mông là rừng, sông suối và đường xá đi lại rất khó khăn; nắng thì gió bụi, mưa thì trơn trượt...

Kể từ năm 1999, giáo điểm Hòa Thạnh bắt đầu có các thầy học viện Đa Minh sau 2 năm Triết, đi thực tập tại Cao Xá và đồng hành với cha Phê-rô Trần Văn Huấn đi truyền giáo tại vùng Biên giới, Hòa Thạnh:

- 1999 – 2000: Thầy Bê-nê-đích-tô Vương Thuật O.P và thầy Phan-xi-cô Xavie Bùi Quang Thảnh O.P.

- 2001 – 2003: Thầy phó tế Hieronimo Nguyễn Phi Hùng (Thầy thuộc Giáo phận Phú Cường; linh mục triều). Cũng từ tháng 9 năm 2001, thầy Giuse Nguyễn Văn Nến O.P. được cha Bề trên Giám tỉnh Dòng Đa Minh Việt Nam bổ nhiệm về Cao Xá và cùng với cha Nguyễn Phi Hùng đi truyền giáo ở vùng biên giới và sau khi lãnh tác vụ linh mục, năm 2008 đã được bổ nhiệm là quản nhiệm Giáo Họ Hòa Thạnh, rồi năm 2012 làm chánh xứ giáo xứ Hòa Thạnh.

- 2004 – 2005: Phê-rô Nguyễn Văn Thủy O.P.

- 2005 – 2006: Đa Minh Vũ Minh Tuấn O.P.

Phan-xi-cô Xavie Nguyễn Minh Đức O.P.

- 2006 – 2007: Giuse Trần Văn Diệu O.P. (phó tế)

- 2007 – 2008: Vinh Sơn Nguyễn Phước Thiện O.P. (phó tế), Giuse Lại Đức Giang O.P.

- 2008 – 2009: Giuse Lê Quốc Quang O.P.

- 2009 – 2010: Gioan Phê Ny Ngân Giang O.P.

- 2010 – 2011: Phao-lô Phạm Chung Kiên O.P.

- 2011 – 2012: Phao-lô Nguyễn Cao Thắng O.P.

Kể từ khi có các thầy Dòng Đa Minh về cộng tác truyền giáo với các cha ở Cao Xá, cũng như sự dấn thân của các Hội Đoàn, nhất là Huynh Đoàn giáo dân Đa Minh và Ban truyền giáo giáo xứ Cao Xá, giáo điểm Hòa Thạnh mỗi ngày phát triển hơn. Số lượng bà con giáo dân ngày càng tăng; mỗi năm có khoảng từ 25 đến 35 người (có năm hơn 40 người) theo đạo (do việc truyền giáo chứ không phải do việc kết hôn):

Năm 2006: 154 hộ gia đình với 507 giáo dân.

Năm 2007: 197 hộ gia đình với 576 giáo dân.

Năm 2008: 218 hộ gia đình với 629 giáo dân

Năm 2011: 244 hộ gia đình với 695 giáo dân.

Năm 2012: 251 hộ gia đình với 716 giáo dân.

Đời sống đức tin ngày càng được củng cố…

Kể từ năm 1997 đến năm 2007, có 1 người giáo dân đã rất tích cực cộng tác trong việc truyền giáo tại chỗ ở Hòa Thạnh, đó là bà Maria Đinh Thị Trên (còn gọi là bà Tư). Bà đã sống ở tại khu đất do cha Huấn mua và cộng tác với các cha trong suốt thời gian khoảng 10 năm. Bà đã đi thăm hỏi những người bỏ đạo lâu năm, những người tân tòng, mời gọi những người có ước muốn theo đạo học đạo và dạy giáo lý…

Kể từ năm 1999 đến nay (năm 2012), có 1 người cũng luôn âm thầm và sẵn sàng cộng tác với các cha các thầy Đa Minh trong viện truyền giáo ở Hòa Thạnh là ông Phạm Văn Miện (ở giáo xứ Cao Xá). Mỗi khi giáo điểm Hòa Thạnh làm việc gì, ông đều hiện diện và cộng tác…

Ngoài ra, còn một số người giáo dân ở Cao Xá đã có một thời gian cộng tác như: Cô Thủy, Cô Khảm, Cô Nga, Cô Hương, Cô Doãn, Chị Loan, chị Thu (dạy hát và đàn lễ nhiều năm)…

Đến năm 2007, những con đường liên xã đã được trải nhựa (đi lại dễ dàng hơn), chỉ còn đường đi đến các khu dân cư vẫn là đường đất.

Khi Giáo họ Hòa Thạnh mới được thành lập, các cha Đa Minh phải xây dựng cơ sở hạ tầng (đổ đất, xây nhà, làm đường nước, đường điện, hàng rào …).

Ngoài việc kiến thiết xây dựng, các cha các thầy Dòng Đa Minh còn phải nhờ quý vị ân nhân giúp đỡ những gia đình khó khăn: dựng lại những căn nhà đất (lợp lá) bị hư hỏng hoặc xây nhà tình thương; mua gạo cho những người già yếu neo đơn nghèo; mua quần áo, tập viết và giúp học phí cho các học sinh nghèo để các em có điều kiện đến trường, không phải bỏ học sớm...

Vì nhiều em thiếu nhi ở xa Nhà thờ và trường học mà không có phương tiện đi lễ, đi học giáo lý và văn hóa, nên các cha cũng phải hỗ trợ kinh phí mua xe đạp cho các em, để các em có phương tiện đi lại…

Trước đây (trước năm 2010), đa số các gia đình sống ở vùng biên giới (có đạo cũng như không có đạo) đều  nghèo và thất học. Nhà ở thì tạm bợ… Nghề nghiệp chính của bà con là trồng lúa, trồng mì (với diện tích ít ỏi) và làm mướn. Vì đa số người trẻ mù chữ, ít chữ hoặc học mới chỉ biết đọc biết viết (chưa hết cấp 1, nên không thể đi xin việc ở các công ty lớn (tại các khu công nghiệp) được. Như vậy, vòng luẩn quẩn nghèo đói cứ tiếp tục từ đời cha mẹ đến đời con cái. Chính vì thế, các cha và các thầy Dòng Đa Minh luôn cố gắng trợ giúp cho những học sinh nghèo được tiếp tục có điều kiện đi học…, với hy vọng rằng các em sẽ có tương lai tốt đẹp hơn. Đến khoảng năm 2010 thì cuộc sống của bà con càng ngày càng khá hơn và con em được quan tâm học hành tốt hơn, nhưng vẫn còn nhiều gia đình cuộc sống còn khó khăn và còn nhiều “khách sạn ngàn sao” (căn nhà tạm bợ : ngồi trong nhà nhìn lên mái nhà thì ngày thấy mặt trời, còn tối thấy mặt trăng!) cần được xây để tránh mưa tránh nắng...

Không chỉ giúp những người Công giáo, mà các cha còn cộng tác với chính quyền địa phương để chăm lo cho cả những người ngoại giáo nghèo. Cũng vì sự hợp tác với chính quyền hỗ trợ, chăm lo cho người nghèo…, mà tương quan ngày càng tốt đẹp hơn và đã được phép sinh hoạt tôn giáo diễn ra bình thường.

Việc các thánh lễ được cử hành thường xuyên, đã làm cho đời sống đức tin của bà con giáo dân ngày càng có chiều sâu và số người theo đạo cũng gia tăng…  Cũng vì số bà con giáo dân gia tăng, mà nay ngôi nhà thờ (tiền chế nhỏ và tạm) đã trở nên chật chội. Đa số bà con giáo dân là những người tân tòng và ở xa nhà thờ (đường đất khó đi, nhất là vào mùa mưa), nhưng đi tham dự thánh lễ khá siêng năng, đều đặn.

Gia đình bà con giáo dân ở rải rác cách xa nhau và xa nhà thờ (1 km, 3 km, 5 km, 10 km và một số gia đình ở cách xa nhà thờ hơn 10 km).

Từ ngày 22/ 06/ 2005, chính quyền cho phép làm Lễ đều đặn vào các ngày Chúa nhật tại lớp học tình thương cho bà con giáo dân hai xã Hòa Thạnh và Biên Giới.  Bà con giáo dân rất vui mừng phấn khởi vì không còn phải đi dự Lễ xa (về Cao Xá hay Thành Long) nữa.

Thời gian đầu mới được phép dâng lễ ở Hòa Thạnh, mỗi khi đi, các cha phải dẫn theo một số người ở giáo xứ Cao Xá đến giúp lễ, thưa đáp trong Thánh lễ và hát lễ... Bà con giáo dân ở tại Hòa Thạnh vẫn chưa thuộc các câu thưa đáp trong Thánh lễ và chưa có ca đoàn. Từ năm 2006 bắt đầu thành lập ca đoàn và mỗi bài hát được tập sau lễ Chúa nhật mất khoảng vài tuần mới hát được 1 hoặc 2 bài hát dễ! Vì thế, bài hát không thể hát đúng Phụng vụ ! Chẳng hạn: bài nhập lễ Chúa nhật thường niên hát bài “Chúng con về nơi đây”, qua mùa Chay (2 hoặc 3 tuần liền), nhập lễ cũng hát “Chúng con về nơi đây”… và sau một thời gian tập được bài hát mới thì mới thay đổi. Lý do là vì các thành viên trong ca đoàn lúc mới được thành lập chưa có người tập thường xuyên (vì các linh mục và các thầy không được phép ở lại qua đêm), chưa có cảm âm, chưa được nghe biết thánh ca và rất ít đi tham dự thánh lễ ở xa… Từ năm 2008, khi có thầy Quang về giúp, nhất là ở tại chỗ, ca đoàn bắt đầu khởi sắc và ngày càng ổn định hơn.

2. "Xanh màu mạ non"

a. Một tiến trình:

Đầu năm 2006, lớp học tình thương (không còn sử dụng) được phép sửa chữa thành nhà nguyện. Lễ Phục Sinh năm 2006 được cử hành tại nhà nguyện mới được xây dựng bằng cột sắt, mái lợp tôn, thưng (được làm tạm) bằng cây tầm vông, cót tre (rộng 8m và dài 24m).

Ngày 29 tháng 04 năm 2008, linh mục Giuse Nguyễn Văn Nến O.P. được chính quyền cho phép đến thường trú và phụ trách (quản nhiệm) Giáo Họ Hòa Thạnh (thay linh mục Phê-rô Trần Văn Huấn O.P.). Từ khi có nhà nguyện và Thánh lễ được cử hành đều đặn vào các ngày Chúa nhật cũng như các ngày thường trong tuần, bà con giáo dân quy tụ ngày càng đông. Đời sống đạo được khơi dậy nhờ việc tham dự Thánh lễ và lãnh nhận các bí tích. Các lớp giáo lý : Khai tâm, Xưng tội rước lễ, Thêm sức, Bao đồng, Dự tòng được mở và dạy vào các buổi sáng Chúa nhật. Các em thiếu nhi đến học khá đông và đi học khá đều đặn (khoảng 160 em). Các giới (gia trưởng, hiền mẫu, giới trẻ, thiếu nhi), giáo lý viên, ca đoàn, Huynh đoàn giáo dân Đa Minh được thành lập; có những ngày lễ và học hỏi riêng cho từng giới.

Kề từ khi có linh mục phụ trách đến sống và làm việc mục vụ, truyền giáo tại chỗ, đã quy tụ bà con giáo dân sống liên đới với nhau và có thêm một số bà con giáo dân ở miền Tây đến lập nghiệp (vì có nhà thờ và thánh lễ…).

Sự thăm viếng của Linh mục phụ trách, các thầy, các nhóm công tác truyền giáo, các Hội đoàn Giáo xứ Cao Xá đã góp phần củng cố đời sống đức tin và động viên bà con giáo dân sống tốt đời đẹp đạo...

Sau khi được bổ nhiệm phụ trách Giáo Họ Hòa Thạnh, linh mục Nến đã mua thêm đất mở rộng diện tích (khoảng hơn 3.000 m2) và xây 1 khu nhà sinh hoạt mới với diện tích khoảng 300 m2.

Ngôi nhà nguyện được thưng bằng tầm vông, tre cót nay đã mối mọt và mục nát. Hơn nữa, mặt bằng 24m x 08m, nhà nguyện hiện nay đã trở nên quá nhỏ với số giáo dân hơn 700 người. Bởi  đó, ước mong của linh mục phụ trách và bà con giáo dân là trong tương lai sẽ có được 1 ngôi nhà thờ khang trang sạch sẽ để việc thờ phượng được sốt sắng hơn và không phải bị mưa hắt ướt (dù ngồi dự lễ trong nhà thờ) như ngôi nhà thờ tạm trống trải và nhỏ bé nữa !

b. Thành quả:

Nhận thấy Giáo họ Hòa Thạnh có đủ tiêu chuẩn để nâng lên Giáo xứ, Đức Giám mục giáo phận quyết định thành lập Giáo xứ mới Hoà Thạnh thuộc Ấp Hiệp Phước, Xã Hòa Thạnh, Huyện Châu Thành, Tỉnh Tây Ninh và được chính quyền Tỉnh  Tây Ninh chấp thuận ngày 30 tháng 12 năm 2011.

Bổn mạng của Giáo xứ là thánh Mác-ti-nô.

Giáo xứ Hoà Thạnh có nhiều người là người Việt kiều Campuchia, một số người di cư từ những nơi khác đến. Địa bàn bao gồm 2 xã : Xã Hoà Thạnh và Xã Biên Giới, thuộc Huyện Châu Thành, Tỉnh Tây Ninh.

Ngày 19 tháng 01 năm 2012, Đức cha Phê-rô Trần Đình Tứ đã bổ nhiệm linh mục Giuse Nguyễn Văn Nến O.P. làm chánh xứ tiên khởi của giáo xứ Hòa Thạnh.

Tuy giáo xứ đã có nơi dâng lễ và nơi ở cho linh mục, nhưng mới chỉ là tạm thời và được xây dựng chắp vá…, nên không đáp ứng được nhu cầu sinh hoạt của một giáo xứ. Vì thế, trong thời gian tới, giáo xứ sẽ phải xây dựng Nhà thờ, nhà xứ và nhà sinh hoạt giáo lý…, là những cơ sở không thể thiếu của một Giáo xứ.

Ngày 01.05.2012, một ngày trọng đại của Tân Giáo xứ Hoà Thạnh: Cha Tổng Đại diện Giáo phận Phú Cường về tại Giáo xứ để chủ sự lễ nhậm chức của cha tân Chánh xứ (Giuse Nguyễn Văn Nến O.P.), công bố nghị định thành lập giáo xứ mới Hòa Thạnh và dâng thánh lễ tạ ơn.

Vì trước khi được phép thành lập giáo xứ, linh mục Nguyễn Văn Nến đã được chính quyền cho phép sống và làm việc mục vụ tại Hòa Thạnh, nên việc tổ chức cơ cấu điều hành của Hội đồng giáo xứ, các giới, các hội đoàn của Giáo xứ đã tương đối ổn định. Giáo xứ được phân chia thành 3 giáo khu: Giáo khu Giuse (gồm: Ấp Hiệp Phước, Ấp Hòa Hợp, Ấp Hiệp Thành, Ấp hiệp Bình), Giáo khu Phê-rô (Ấp Cây Ổi) và Giáo khu Đa Minh (Xã Biên Giới).

Số giáo dân trước khi xin thành lập giáo xứ là 695 người và hiện nay (năm 2012) là hơn 700 người.

Năm 2012, có 1 ân nhân từ Sài Gòn, có ý định sẽ giúp đỡ giáo xứ Hòa Thạnh xây dựng một ngôi nhà thờ mới. Linh mục phụ trách bắt đầu khởi động việc tiến hành các thủ tục giấy tờ để xin phép và đi thuê mướn kỹ sư thiết kế bản vẽ tổng thể giáo xứ và bản vẽ thi công nhà thờ. Việc xây dựng nhà thờ thì đã có người hứa tài trợ. Nhưng việc xây dựng các công trình giáo xứ mới chỉ là khởi đầu. Bởi, trước khi xây nhà thờ, giáo xứ phải lo san lấp mặt bằng và sau khi xây nhà thờ xong, còn phải xây tường rào, xây nhà xứ…