Lạy Chúa, vì yêu thương, Chúa đã hy sinh mạng sống để cứu chúng con khỏi tội lỗi và mong cho chúng con được nên công chính hầu mai ngày được hạnh phúc đời đời. Chúng con chẳng có là gì cả; so với Chúa, chúng con bất toàn, bé nhỏ, hèn mọn, tội lỗi, bất tín…
Thiên Chúa làm những điều đó cho con người; giúp chúng ta trong những lúc khó khăn và những nơi hiểm nghèo. Bằng những cách lạ thường và qua những con người không mong đợi, cơn khát của chúng ta được thỏa mãn.
Khi gặp Người, họ xin Người ở lại với họ. Và Người đã ở lại đó hai ngày, và vì nghe chính lời Người giảng dạy, số những kẻ tin ở Người thêm đông hẳn, họ bảo người đàn bà: "Giờ đây, không phải vì những lời chị kể mà chúng tôi tin, nhưng chính chúng tôi đã được nghe lời Người và chúng tôi biết Người thật là Đấng Cứu Thế".
Đức Giêsu từ từ soi sáng cho người đàn bà. Ngài trao đổi lời đối thoại với người đàn bà tất cả là 7 lần, nhiều hơn với bất cứ những ai khác trong Kinh Thánh. Người đàn bà khởi đầu gọi Đức Giêsu là ông Do Thái, rồi chuyển sang gọi là ngài, rồi xin cho được uống nước, tiếp đến, gọi Người là đấng tiên tri và cuối cùng là Kitô và người đàn bà đã kêu toàn thể dân làng ra tung hô Người là Đấng Cứu Thế.
Con người được Thiên Chúa ban cho có tự do để làm quyết định; nhưng khi con người quyết định chọn điều gì, là con người phải lãnh nhận hậu quả do quyết định ấy mang lại. Thói quen của con người là không muốn phải vâng lời ai, muốn tự mình có thể quyết định mọi sự.
Bây giờ người đói, người khát không phải là Chúa Giêsu nữa mà chính là người thiếu phụ Samari. Chính chị là người phải mở miệng xin Chúa cho nước uống, không phải thứ nước từ trong giếng kia, uống vào chỉ đỡ khát trong chốc lát; còn Ngài, Ngài sẽ ban cho thứ nước ban sự sống đời đời
Bài Tin Mừng Mt 13,1-12 gồm hai phần. Phần đầu nói về việc các kinh sư và những người Pha-ri-sêu “nói” mà không “làm”. Tuy vậy, Đức Giê-su dặn dân chúng và các môn đệ là đừng “làm theo” những gì “họ làm” nhưng “hãy làm” và “hãy giữ” những gì “họ dạy” theo luật Mô-sê (13,2-4).
|