Hát Lên Bài Ca Mới: Tự Do & Trách Nhiệm - P. I

 

TỰ DO VÀ TRÁCH NHIỆM

Hướng Tới Một Linh Đạo Về Quản Trị

Timothy Radcliffe, OP

 

1. NGÔI LỜI ĐÃ TRỞ THÀNH NGƯỜI PHÀM, "ĐẦY ÂN SỦNG VÀ SỰ THẬT" 

THÁNH ĐA MINH, CON NGƯỜI CỦA TỰ DO VÀ QUẢN TRỊ 

Thánh Đa Minh thu hút chúng ta bằng sự tự do của Người. Đó là sự tự do của nhà giảng thuyết lữ hành nghèo khó, tự do để sáng lập nên một dòng tu không giống bất cứ dòng tu nào đã có trước đó. Người tự do phân bổ cộng đoàn mong manh nhỏ bé mà người đã qui tụ quanh mình và phái họ đi tới các đại học. Và Người tự do chấp nhận những điều anh em đã quyết nghị trong tổng hội, ngay cả khi không đồng quan điểm với anh em. Đó là sự tự do của con người có lòng thương cảm, dám đối diện và dám trả lời.

Dòng luôn luôn phát triển khi chúng ta sống với sự tự do trong tâm hồn và trí khôn của thánh Đa Minh. Ngày hôm nay, làm thế nào chúng ta có thể canh tân sự tự do đúng đắn và sâu sắc của Đa Minh? Sự tự do ấy mang nhiều chiều kích: nếp sống đơn giản, lữ hành, cầu nguyện. Trong thư này, tôi xin tập trung vào một cột trụ của sự tự do mà thôi, đó là việc quản trị hữu hiệu. Sau khi đi thăm nhiều tỉnh dòng, tôi xác tín rằng sự tự do đặc trưng của dòng Đa Minh được diễn tả qua đường lối quản trị. Thánh Đa Minh không để lại cho chúng ta một linh đạo gói ghém trong một sưu tập bài giảng hoặc các bản văn thần học. Thay vào đó, chúng ta được thừa hưởng từ Người và các anh em tiên khởi một thể thức quản trị có khả năng giúp chúng ta được tự do để đem lòng thương cảm đáp lại những người đang đói khát Lời Thiên Chúa. Khi hiến dâng đời mình để giảng thuyết Tin mừng, chúng ta đặt tay trên sách Hiến pháp, mà phần lớn những điều khoản trong Hiến pháp lại liên quan đến việc quản trị.

Điều đó có thể khiến chúng ta ngạc nhiên. Trong nền văn hóa hiện đại, nói đến quản trị người ta thường nghĩ ngay đến sự kiểm soát, đến việc giới hạn quyền tự do cá nhân. Quả thực, nhiều anh em Đa Minh có thể bị cám dỗ nghĩ rằng tự do hệ tại chỗ làm sao thoát ra khỏi sự kiểm soát vướng víu của các bề trên! Nhưng Dòng chúng ta lại không chia thành “những người quản trị” và “những người bị quản trị”. Đúng ra, việc quản trị giúp chúng ta có thể chia sẻ trách nhiệm chung đối với đời sống và sứ vụ. Việc quản trị đặt nền trên tình huynh đệ. Nó làm cho chúng ta trở thành những người anh em, trở thành tự do để “có thể hữu ích cho ơn cứu độ các linh hồn”[1]. Khi nhận một anh em vào Dòng, chúng ta tin tưởng là người đó sẽ có khả năng giữ một vai trò trong việc quản trị cộng đoàn và tỉnh dòng, sẽ góp phần vào các cuộc bàn thảo, đồng thời giúp chúng ta đạt được và thực hiện những quyết định một cách thành công.

Thời đại chúng ta bị cám dỗ đi theo thuyết định mệnh, tin rằng khi đối diện với những khó khăn mà thế giới đang gặp phải, chúng ta không thể làm được gì. Thái độ thụ động này có thể ảnh hưởng cả vào đời tu. Chúng ta chia sẻ sự tự do của thánh Đa Minh khi chúng ta bị thúc giục phải giảng thuyết Tin mừng đến độ dám có những quyết định khó khăn, hoặc là phải  đưa ra một sáng kiến mới, hoặc phải đóng cửa một cộng đoàn hay phải chịu đựng một công tác tông đồ gian khổ. Để có sự tự do này, việc quản trị hữu hiệu là điều cần thiết. Nghịch lại với việc quản trị không phải là tự do mà là sự tê liệt.

Trong thư này, tôi không đưa ra những nhận xét chi tiết về việc phải áp dụng Hiến pháp như thế nào. Đó là trách nhiệm của các tổng hội. Thực ra, tôi muốn gợi ra cho thấy Hiến pháp đề cập tới một vài khía cạnh sâu xa nhất của đời sống tu trì như thế nào: đó là tình huynh đệ và sứ vụ. Chỉ áp dụng Hiến pháp đơn giản như thể đó là một bộ sách gồm các luật lệ qui tắc thì không đủ. Chúng ta cần phải khai triển cái gọi được là một linh đạo về quản trị, để qua đó chúng ta cùng nhau lớn lên với tư cách là những người anh em và những nhà giảng thuyết.

Những dẫn giải ở đây dựa trên kinh nghiệm của tôi, kinh nghiệm quản trị nhờ anh em. Vì thế, những gì tôi nói không phải lúc nào cũng có thể áp dụng được vào các ngành khác trong Gia đình Đa Minh. Nhưng tôi hy vọng là những điều này cũng có thể hữu ích cho các nữ đan sĩ, các nữ tu và anh chị em huynh đoàn giáo dân khi phải giáp mặt với những thách đố tương tự.

“Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng tôi. Chúng tôi đã được nhìn thấy vinh quang của Người, vinh quang mà Chúa Cha ban cho Người là Con Một đầy tràn ân sủng và sự thật” (Ga 1:14). Những lời trên đây của thánh Gio-an sẽ giúp chúng ta kiến tạo những suy nghĩ rất đơn giản liên quan đến việc quản trị. Có vẻ là phi lý khi lấy một bản văn súc tích về thần học như thế làm nền tảng cho việc trình bày về quản trị. Tôi xin chứng minh thách đố của việc quản trị hữu hiệu đang làm cho ân sủng và sự thật đó trở thành xác phàm giữa chúng ta như thế nào.

1. Lời đến ở giữa chúng ta là Lời “đầy ân sủng và sự thật”

Phần thứ nhất của lá thư này suy tư về mục đích của tất cả mọi việc quản trị, đó là nhằm giúp chúng ta được giải phóng để giảng thuyết Tin mừng. Việc quản trị nào trong Dòng cũng lấy sứ mạng chung đó làm mục đích của mình.

2. Lời đang “cư ngụ giữa chúng ta”

Trong phần thứ hai, chúng ta sẽ xem xét các nguyên tắc nền tảng của việc quản trị Đa Minh. Điều cốt yếu trong thực tế quản trị của chúng ta là chúng ta gặp nhau trong công hội, tham gia bàn bạc, bỏ phiếu và đưa ra quyết định. Nhưng những cuộc hội họp này sẽ không khác gì việc điều hành trong trạng thái tốt nhất, và nền chính trị đảng phái tệ hại nhất, trừ phi những cuộc hội họp này là cơ hội giúp chúng ta tiếp đón Lời Thiên Chúa, Lời đã khấng dựng lều cư ngụ giữa chúng ta. Việc quản trị cần được nuôi dưỡng bằng tình huynh đệ sống động.

3. Lời Thiên Chúa đã trở thành xác phàm

Cuối cùng, lý thuyết đẹp đẽ về việc quản trị phải nhập thể trong thực tại phức tạp của đời sống chúng ta, trong các tu viện, các tỉnh dòng và toàn Dòng. Trong phần cuối cùng, tôi sẽ chia sẻ một ít nhận xét về mối tương quan giữa những cấp độ trách nhiệm khác nhau trong Dòng. 

MỤC ĐÍCH CỦA VIỆC QUẢN TRỊ DÒNG

Tự do để thi hành sứ vụ

Trong thị kiến của thánh Catarina, Chúa Cha phán về thánh Đa Minh rằng: “Người đã nhận lãnh sứ mạng của Ngôi Lời, Con Một của Cha. Người đã xuất hiện rõ ràng như một người tông đồ trong thế giới, đã gieo rắc lời Cha rất chân thật và minh bạch, xua tan bóng tối và đem lại ánh sáng”[2]. Bất cứ việc quản trị nào trong Dòng cũng đều có mục đích là loan truyền Lời Thiên Chúa, nối dài cuộc Nhập thể.

 Muốn trắc nghiệm xem việc quản trị có hữu hiệu hay không, cứ xem việc quản trị ấy có nhằm phục vụ sứ mạng này hay không. Đó là lý do tại sao ngay từ buổi khai nguyên của Dòng, một vị bề trên lại có quyền chuẩn chước lề luật, “nhất là khi thấy có lợi trong những vấn đề xem ra cản trở việc học, giảng thuyết hoặc lợi ích của các linh hồn”[3].

Điều căn bản đối với đời sống của anh em, đó là chúng ta qui tụ trong công hội, cho dù là tu viện hội, tỉnh hội hoặc tổng hội, để đưa ra những quyết định liên quan đến đời sống và sứ vụ của chúng ta. Ngay từ thời khai nguyên của Dòng, chúng ta đã đạt được những quyết định này một cách dân chủ, bằng cách bàn luận để đi tới chỗ bỏ phiếu. Nhưng cái làm cho tiến trình dân chủ này có nét Đa Minh đặc thù, đó làchúng ta không chỉ lo tìm xem ý muốn của đa số là gì, nhưng tìm xem những nhu cầu của sứ vụ là gì. Chúng ta được phái đi thi hành sứ vụ nào? Hiến pháp nền tảng của Dòng đã nêu rõ sợi dây nối kết giữa việc quản trị dân chủ của chúng ta với việc đáp trả những nhu cầu của sứ vụ: “Thể thức cộng đoàn của việc quản trị đặc biệt thích hợp cho việc phát triển và thường xuyên canh tân của Dòng... Việc Dòng thường xuyên kiểm thảo này là cần thiết không phải chỉ vì tinh thần hoán cải thường xuyên của Kitô giáo, nhưng còn vì ơn gọi đặc biệt của Dòng thúc đẩy Dòng thích ứng sự hiện diện của mình trong thế giới với mỗi thế hệ”[4].

Thể chế dân chủ có thể giúp chúng ta đảm nhận hoặc thoái thác trách nhiệm. Chúng ta được tự do đưa ra những quyết định có thể đảo lộn cuộc đời chúng ta, hoặc chúng ta có thể điềm nhiên tọa thị. Chúng ta có thể bầu lên những vị bề trên dám đòi hỏi chúng ta nhiều hơn là chúng ta cảm thấy mình có thể cống hiến, hoặc chúng ta chọn lấy một người anh em sẽ để cho chúng ta hai chữ bình yên. Nhưng cần phải minh bạch về điểm này: nền dân chủ của chúng ta chỉ có tính cách Đa Minh nếu việc chúng ta bàn luận và bỏ phiếu là một nỗ lực để lắng nghe Lời Thiên Chúa mời gọi chúng ta bước đi trên con đường làm môn đệ.

Mỗi thể chế đều có thể bị cám dỗ lấy sự vững bền thiên thu làm mục đích tối hậu của mình. Một công ty chế tạo ô-tô không thể tồn tại nếu không phát xuất từ  nỗi khao khát mãnh liệt là đáp ứng nhu cầu của nhân loại cần có ô-tô, nhưng như thế để tổ chức có thể tự nó bành trướng và lớn lên. Chúng ta cũng có thể sa vào cái bẫy này, và nhất là nếu chúng ta nói về thể chế của riêng mình bằng những từ ngữ phát xuất từ thế giới thương mại: ban cố vấn tỉnh có thể trở thành “Phòng quản trị”, còn quản lý tỉnh là “quản đốc”! Thậm chí anh em có thể sánh với “nhân sự”. Có người mẹ nào khi báo tin mình sắp sinh một đứa con lại bảo rằng nhân sự nhà ta sắp gia tăng không? Nhưng thể chế của chúng ta sở dĩ hiện hữu là nhằm mục đích khác, ngoài bản thân chúng ta, đó là huy động anh em thi hành sứ vụ.

Trong cuốn “Đời sống anh em” có câu truyện về một luật sư nổi tiếng ở Vercelli chạy đến gặp anh Jordan Saxony, sấp mình trước mặt anh, và tất cả những gì anh ta nói là thế này: “Tôi thuộc về Thiên Chúa”. Anh Jordan đáp lại: “Vì anh thuộc về Thiên Chúa, nên nhân danh Người chúng tôi chuyển nhượng anh cho Người”[5]. Mỗi anh em là một quà tặng Thiên Chúa ban, nhưng người anh em đó được ban cho chúng ta để chúng ta có thể dâng hiến anh ta, bằng cách làm cho anh ta có thể ra đi thi hành sứ vụ và làm cho anh ta được tự do để giảng thuyết.

Khởi đầu mọi việc quản trị hữu hiệu đều là cùng nhau chăm chú lắng nghe Lời Thiên Chúa, mở tai ra để nghe những nhu cầu của dân chúng. Trong một lời kinh của Dòng vào thế kỷ XIII, anh em cầu xin Chúa Thánh Thần “soi sáng chúng con và ban cho chúng con đôi mắt để nhìn, đôi tai để nghe, đôi tay để làm công việc của Thiên Chúa, miệng lưỡi để giảng thuyết lời cứu độ, và thiên thần bình an để canh giữ chúng con, và cuối cùng nhờ hồng ân của Chúa dẫn đưa chúng con tới Nước Trời”[6]. Mỗi khi họp nhau trong công hội, chúng ta cầu xin Chúa Thánh Thần, để chúng ta có đôi mắt biết nhìn, đôi tai biết nghe, nhưng điều chúng ta nhìn thấy, nghe thấy rất có thể mời gọi chúng ta đến nơi lẽ ra chúng ta không nên tới. Lòng thương cảm có thể đảo lộn cuộc đời của chúng ta.

Và nếu sứ vụ là cùng đích của mọi việc quản trị, thì khởi đầu của nó là gì?  Hẳn nhiên đó là “chúng tôi đã nhìn thấy vinh quang của Người, vinh quang mà Chúa Cha ban cho Người là Con Một”. Nếu quản trị là hành sử trách nhiệm, thì điều này cuối cùng diễn tả lời đáp trả của chúng ta đối với Đấng đã mặc khải vinh quang của Người cho chúng ta. Chiêm niệm người Con Một là gốc rễ mọi sứ vụ, và vì thế là động lực của bất kỳ việc quản trị nào. Không có trạng thái tĩnh lặng này thì không thể có chuyển động được. Mọi việc quản trị đều đưa chúng ta từ chiêm niệm đến sứ vụ. Không có nó, chúng ta chỉ còn làm công việc điều hành thuần túy mà thôi.

Công việc quản trị là sứ vụ chung

Ngôi Lời đã nhập thể và cư ngụ giữa chúng ta. Lời cứu độ qui tụ chúng ta lại trong sự hiệp thông, trong Thiên Chúa Ba Ngôi  và với mỗi người khác. Trong Ngôi Lời đó, chúng ta tìm được sự tự do chân thực, đó là sự tự do để thuộc về nhau trong ân sủng và sự thật. Tin mừng chúng ta thuyết giảng, đó là chúng ta có thể tìm được nhà của mình trong sự sống của Thiên Chúa Ba Ngôi.

Nếu việc giảng thuyết Tin mừng là lời mời gọi hiệp thông, thì người giảng thuyết không bao giờ là một người đơn độc, một khi đã dấn thân thi hành sứ vụ. Mọi lời giảng thuyết của chúng ta đều là chia sẻ một trách vụ chung, là lời mời vào ở trong ngôi nhà chung. Nếu cùng đích của việc quản trị trong Dòng là sứ vụ giảng thuyết, thì thách đố chính yếu của nó là làm sao qui tụ anh em tham gia vào sứ vụ chung, là sứ vụ của Dòng và của Hội Thánh. Các môn đệ không được sai đi lủi thủi một mình.

Không có gì làm cho việc quản trị hữu hiệu trở nên què quặt cho bằng chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa này khiến một anh em có thể trở thành quá gắn bó với “dự phóng của tôi”, “việc tông đồ của tôi” đến nỗi không còn có thể được huy động vào sứ vụ chung của Dòng nữa. Thái độ tư hữu hoá việc giảng thuyết này không chỉ làm cho chúng ta khó khai triển và duy trì những dự phóng chung, mà một cách triệt để hơn, nó còn đưa ra hình ảnh sai lạc về ơn cứu độ chúng ta được kêu gọi tới, đó là sự hiệp nhất trong ân sủng và sự thật. Cuối cùng nó đành chịu khuất phục hình ảnh sai lạc về ý nghĩa của con người thực: một cá nhân đơn độc mà sự tự do của họ là tự quyết định, được giải phóng khỏi sự can thiệp của những người khác.

Một trong những thách đố chính yếu của việc quản trị là không chịu để cho sứ vụ chung của Dòng ra tê liệt vì thứ chủ nghĩa cá nhân như thế. Sự tự do của thánh Đa Minh, mà chúng ta quan niệm như là nét đặc sắc của Dòng, không phải là sự tự do để chúng ta làm những đường mòn riêng, khỏi bị các bề trên can thiệp. Nhưng đó là sự tự do để dâng hiến bản thân mình, không giữ lại điều gì, với sự quảng đại điên rồ của Ngôi Lời đã trở thành xác phàm.

Có một số hình thức giảng thuyết Tin mừng không thể dễ dàng chia sẻ. Chẳng hạn một anh em hoặc một chị em giảng thuyết bằng cách làm thơ, bằng hội hoạ, hoặc thậm chí bằng việc nghiên cứu, có khi thường phải làm việc một mình. Ngay cả khi đó chúng ta vẫn phải cho thấy rằng họ không chỉ “làm chuyện riêng của họ”, rằng họ cũng đóng góp vào sứ vụ chung. Dòng thường có sức sống khi Dòng khai thác được sức năng động của anh em. Đôi lúc điều tự do nhất mà một bề trên có thể làm là truyền cho một anh em làm điều mà anh em ấy ao ước mãnh liệt nhất và có thể làm. Đôi lúc sứ vụ chung có thể đòi chúng ta chấp nhận những trách vụ lẽ ra chúng ta không chọn, đòi chúng ta hy sinh một công việc tông đồ quí hóa vì lợi ích chung. Chúng ta không phải chỉ là những nhà giảng thuyết và chủ chăn, nhưng còn là những người quản lý tài chánh và thư ký văn phòng, những bề trên và những người điều hành. Nhưng đó cũng là một phần của việc giảng thuyết Lời đã qui tụ chúng ta thành cộng đoàn.

(còn tiếp)


[1] Lời tựa Hiến pháp sơ thủy.

[2] Đối thoại 158.

[3] Hiến pháp Nền tảng I.VI.

[4] Hiến pháp Nền tảng I.VII.

[5] 'A Dominican blessing', Early Dominicans selected writtings, edited by Simon Tugwell OP, New York 1982, tr. 153.

[6] Đối thoại 158.

 

 

Tin / Bài mới