TỰ DO VÀ TRÁCH NHIỆM
Hướng Tới Một Linh Đạo Về Quản Trị
Timothy Radcliffe, OP
2. LỜI ĐÃ THÀNH XÁC PHÀM VÀ CƯ NGỤ GIỮA CHÚNG TA
Nguyên Tắc Căn Bản Của Việc Quản Trị Đa Minh
Hiến pháp bảo chúng ta rằng “lý do trước tiên khiến chúng ta qui tụ lại với nhau là để chúng ta sống trong sự hiệp nhất, và để chúng ta có một trí một lòng trong Thiên Chúa”[7]. Điều này xem ra trái ngược với mục đích căn bản của Dòng, đó là chúng ta được phái đi giảng thuyết Lời Thiên Chúa. Thực ra, đó là một sự căng thẳng lành mạnh và cần thiết, luôn là một dấu ấn trong đời sống Đa Minh. Chúng ta được sai phái đi giảng thuyết ân sủng và sự thật, cho nên chúng ta phải sống với nhau. Nếu không, sẽ chẳng có gì để giảng. Sứ vụ chung mà chúng ta đang chia sẻ đặt nền trên đời sống chung chúng ta đang sống.
Trong việc quản trị của chúng ta có sự căng thẳng đó. Vì nếu cùng đích của mọi việc quản trị là làm sao cho anh em được tự do để giảng thuyết, thì việc quản trị đã dựa trên tình huynh đệ của chúng ta rồi. Nếu chúng ta không cố gắng sống với nhau trong sự hiệp nhất tâm hồn và trí khôn, thì nền dân chủ của chúng ta vô ích. Trong thị kiến, Chúa Cha phán với thánh nữ Catarina rằng con thuyền của thánh Đa Minh là một con thuyền trong đó “cả người hoàn hảo lẫn người chưa được hoàn hảo lắm đều đi chung với nhau êm thắm”. Dòng là căn nhà dành cho các tội nhân. Và như thế có nghĩa là cần phải xây dựng một việc quản trị hữu hiệu. Chỉ áp dụng Hiến pháp, tổ chức các công hội, bỏ phiếu, đưa ra nghị quyết thì chưa đủ. Thi sĩ T.S. Eliot nói cho chúng ta về dân chúng “đang mơ có những hệ thống thật hoàn hảo đến độ không ai còn cần phải trở nên tốt lành nữa”[8]. Hệ thống quản trị của chúng ta chủ yếu đặt nền trên việc tìm kiếm nhân đức. Xác phàm phải trở thành lời và sự hiệp thông, và một nhóm người gồm nhiều cá nhân tức là chúng ta phải trở thành một cộng đoàn.
Quyền lực, quyền bính và trách nhiệm
Quản trị hữu hiệu phụ thuộc vào việc sống mối tương quan giữa quyền lực, quyền bính và trách nhiệm một cách đúng đắn. Điều có vẻ lạ là tôi không cho vào đây một đoạn nói về đức tuân phục. Đó là vì tôi đã viết dài về đức tuân phục trong thư gửi toàn Dòng tựa đề là Tuyên khấn để thi hành sứ vụ rồi. Thư này đã đủ dài nên không cần nhắc lại những gì tôi đã viết nữa. Vì thế, hầu hết những điều tôi viết trong thư nói về việc quản trị này mặc nhiên hàm ẩn những điều liên quan đến đức tuân phục, qua đó chúng ta dâng hiến cuộc đời mình một cách vô điều kiện để phục vụ sứ mạng chung của Dòng.
Quyền lực
Đời sống chung không thể tránh khỏi chạm trán với vấn đề quyền lực. Chúng ta thường không thích nói về quyền lực, trừ phi chúng ta cảm thấy nó bị lạm dụng. Từ ngữ quyền lực xem ra không thích hợp để nói về mối tương quan huynh đệ đang hợp nhất chúng ta. Thế nhưng mỗi cộng đoàn của con người lại được ghi dấu bằng những mối tương quan quyền lực, và các cộng đoàn Đa Minh cũng không được chuẩn miễn khỏi điểm này. Khi khấn dòng, chúng ta đặt mình vào tay anh em. Anh em chúng ta sẽ quyết định về cuộc sống của chúng ta mà chúng ta có thể không phấn khởi, thậm chí còn cảm thấy bất công là đàng khác. Chúng ta có thể được bổ nhiệm vào những địa điểm mà chúng ta không mong đến, hoặc được chọn vào những chức vụ mà chúng ta không muốn lãnh nhận.
Mỗi anh em đều có quyền, dựa theo quyền đó anh em có thể phát biểu hoặc không phát biểu, và dựa theo quyền đó anh em có thể làm hay không làm. Tất cả những điểm tôi trình bày trong thư này - tính dân chủ trong các cuộc hội họp, bỏ phiếu, tương quan giữa các thẩm cấp khác nhau trong việc quản trị Dòng - đều khai thác những khía cạnh của quyền lực mà chúng ta đều có trong tương quan với nhau. Và nếu việc rao giảng của chúng ta có quyền lực, thì chúng ta phải sống những mối tương quan quyền lực này một cách cởi mở, lành mạnh và hợp với Tin mừng.
Cuộc đời Đức Giêsu cho thấy mối tương quan mâu thuẫn với quyền lực. Đức Giêsu là Đấng nói những lời đầy quyền năng, những lời đã mời gọi các môn đệ đi theo Người, những lời đã chữa lành các bệnh nhân, xua trừ ma quỉ, cho người đã chết chỗi dậy và dám đương đầu với giới chức tôn giáo thời bấy giờ. Và Đức Giêsu cũng là một người không có quyền, từ chối thanh gươm bảo vệ của ông Phêrô, và Người đã bị treo lên cây thập giá.
Với con người mạnh mẽ nhưng lại bị thương tổn này, quyền lực luôn luôn là để chữa lành và ban sự sống. Quyền lực của Người không bao giờ để đạp đổ, giảm thiểu, làm cho ra nhỏ bé, phá hủy. Đó không phải là quyền ăn trên ngồi trốc trên dân chúng, và quyền Người cho họ cũng như thế. Quả vậy, Người tỏ ra thật là quyền thế khi chối từ không chịu làm con kênh cho bạo lực tuôn chảy, khi Người chịu đựng bạo lực trong thân thể Người, khi Người để bạo lực dừng lại nơi Người. Người nắm lấy cuộc thương khó và cái chết trong tay và làm cho nó sinh hoa trái, nên tặng phẩm, tức là Thánh Thể.
Việc quản trị hữu hiệu trong các cộng đoàn đòi chúng ta sống mối tương quan quyền lực theo đường lối này, đem lại quyền lực cho anh em hơn làlàm cho anh em suy yếu. Điều này đòi chúng ta phải can đảm, dám chịu thương tổn. Josef Pieper viết: “Sức mạnh giả thiết khả năng bị thương tổn. Không có khả năng bị thương tổn này thì không thể có sức mạnh. Một vị thiên thần không thể can đảm bởi vì người không thể bị thương tổn. Là người hùng có nghĩa là sẵn sàng chịu lấy vết thương. Vì con người bản chất có thể bị thương tổn, nên chúng ta có thể là người can đảm”[9]. Việc quản trị mời gọi chúng ta sống khả năng bị thương tổn can đảm như thế.
Quyền bính
Bất kỳ việc quản trị nào cũng phụ thuộc vào việc hành sử quyền. Quyền bính tối cao của Dòng là tổng hội có nghĩa là nhìn nhận rằng: đối với chúng ta, quyền bính được trao cho tất cả anh em. Thứ tự các tổng hội: giám định viên rồi giám tỉnh, nhắc cho chúng ta biết rằng đối với chúng ta quyền bính được nhìn từ nhiều phía. Các bề trên có quyền bính do nhiệm vụ. Các nhà thần học và các nhà tư tưởng có quyền do sự hiểu biết. Các anh em dấn thân làm việc tông đồ có quyền vì họ tiếp xúc với dân chúng trong cuộc đấu tranh để sống đức tin. Các anh em cao niên có quyền vì bề dàykinh nghiệm. Các anh em trẻ có quyền do sự hiểu biết của họ về thế giới hiện tại với những vấn đề của nó.
Việc quản trị hữu hiệu tiến hành suông sẻ khi chúng ta nhìn nhận và tôn trọng quyền bính mà mỗi anh em đều có, và từ chối tuyệt đối hóa bất cứ hình thức quyền bính nào. Nếu chúng ta tuyệt đối hóa quyền bính của các bề trên, thì Dòng chúng ta hết huynh đệ. Nếu chúng ta tuyệt đối hóa quyền bính của các nhà tư tưởng, thì Dòng chúng ta trở thành một viện hàn lâm kỳ quặc. Nếu chúng ta tuyệt đối hóa quyền bính của các mục tử, thì chúng ta phản bội lại sứ mạng của chúng ta trong Hội thánh. Nếu chúng ta cho rằng quyền bính của những người cao niên là bất khả bàn luận, thì chúng ta sẽ không có tương lai. Nếu chúng ta cho rằng quyền bính chỉ thuộc về người trẻ, thì chúng ta sẽ mất gốc. Sự lành mạnh trong việc quản trị của chúng ta phụ thuộc vào việc để cho mọi tiếng nói ảnh hưởng qua lại để tạo nên cộng đoàn.
Hơn nữa, là thành phần của Gia đình Đa Minh, có nghĩa là chúng ta cũng được kêu mời chú ý lắng nghe tiếng nói của các đan sĩ, nữ tu và giáo dân. Họ cũng phải có quyền bính trong các cuộc bàn thảo của chúng ta. Các nữ đan sĩ có quyền bính bắt nguồn từ đời sống hiến dâng để chiêm niệm. Các nữ tu cũng có một quyền bính phát xuất từ cuộc đời của các chị với tư cách là những người phụ nữ với những kinh nghiệm mục vụ thật đa dạng. Các nữ tu thường có thể dạy chúng ta nhiều điều vì các chị gần gũi Dân Thiên Chúa, nhất là những người nghèo. Càng lúc càng có nhiều nữ tu được học hỏi về thần học và các chi có nhiều điều để dạy chúng ta. Giáo dân cũng có quyền bính vì lẽ họ có nhiều kinh nghiệm, nhiều kiến thức khác nhau, và đôi khi vì đời sống hôn nhân và thiên chức làm cha làm mẹ của họ nữa. Một phần những gì chúng ta cống hiến cho Hội thánh là ở chỗ đang trở thành một cộng đoàn trong đó mỗi một quyền bính trên đây phải được mọi người nhìn nhận.
Trách nhiệm
Việc quản trị nào cũng đều là hành sử một trách nhiệm được chia sẻ để phục vụ đời sống và sứ vụ của Dòng. Nền tảng của việc quản trị này là niềm tin tưởng rằng chúng ta phải có nhau. Khi thánh Đa Minh sai phái các anh em trẻ đi giảng thuyết, các tu sĩ Xitô coi việc tin tưởng các anh em trẻ như thế là gai chướng. Thánh nhân nói với các tu sĩ Xitô rằng: “Tôi biết, tôi biết chắc, những người trẻ của tôi ra đi và sẽ trở lại, họ được phái đi và họ sẽ trở về; còn những người trẻ của các ngài sẽ bị nhốt chặt lại và rồi sẽ ra đi”[10].
Mục đích mọi công cuộc đào tạo của chúng ta đều nhằm giúp cho anh em thành những con người tự do và có trách nhiệm, và đó là lý do tại sao Hiến pháp nói rằng người có trách nhiệm tiên quyết đối với việc đào tạo là chính ứng sinh[11]. Việc quản trị đặt căn bản trên lòng tin tưởng vào anh em. Chúng ta bày tỏ lòng tin tưởng của chúng ta khi nhận cho anh em tuyên khấn. Cũng một thái độ tin tưởng ấy hiện diện trong việc bầu cử các bề trên. Các bề trên cũng phải tin tưởng anh em, những người mà các ngài chỉ định vào các chức vụ. Đôi khi chúng ta có thất vọng, nhưng đó không phải là lý do để từ khước thái độ tin tưởng lẫn nhau như thế. Simon Tugwell có viết: “Nói cho cùng, nếu tu sĩ Đa Minh phải làm công việc của mình môt cách đàng hoàng, thì phải sẵn sàng chấp nhận một số may rủi nào đó, và họ cần phải được tin tưởng để có thể đương đầu với những may rủi đó. Và Dòng cũng phải chấp nhận một số, có thể là nhiều, những cá nhân có thể lạm dụng sự tin tưởng ấy”[12].
Một thái độ tin tưởng như thế đòi chúng ta phải vượt thắng nỗi sợ hãi, sợ điều có thể xảy ra nếu không kiểm soát anh em. Chúng ta phải đào tạo anh em biết sống với sự tự do của thánh Đa Minh như thế. Anh Felicissimo Martinez viết: “Không có việc gì phục vụ con người vĩ đại hơn là giáo dục họ để họ biết sống tự do... Nỗi sợ hãi tự do có thể bắt nguồn từ thiện chí của những người cảm thấy có trách nhiệm đối với người khác, và nó có thể được cho là hợp lý khi nại đến thực tế. Nhưng điều này lại cho thấy một cái nhìn kém đức tin trong năng lực và sức mạnh của kinh nghiệm Kitô. Sợ hãi và thiếu đức tin thường đi đôi với nhau”[13].
Sự sợ hãi phá hủy mọi việc quản trị hữu hiệu. Thánh nữ Catarina đã viết cho Đức Gregory XI: “Con ao ước thấy cha được giải thoát khỏi bất cứ nỗi sợ hãi nô lệ nào, vì con ý thức rằng con người sợ hãi không bền tâm vững chí trong sức mạnh của sự cương quyết thánh thiện và khát vọng tốt lành... Thưa cha, xin can đảm đứng lên, vì con thưa cha rằng không có gì phải sợ cả”[14]. Sợ hãi là nét đặc biệt của nô lệ, vì thế không thể dung hợp với địa vị của chúng ta là con cái Thiên Chúa, là anh em chị em của nhau. Điều đó lại càng sai nếu xảy ra nơi một bề trên là người được kêu gọi để giúp anh em mình lớn lên trong niềm tin tưởng và không còn sợ hãi.
Nhưng tin tưởng nhau không có nghĩa là bào chữa cho thái độ ơ hờ đối với nhau. Vì tôi tin tưởng người anh em của tôi không có nghĩa là tôi có thể quên anh ta đi và để mặc cho anh ta đi theo con đường riêng của mình. Nếu việc quản trị hữu hiệu giúp chúng ta chia sẻ trách nhiệm, thì nó đã bắt nguồn từ trong trách nhiệm hỗ tương mà chúng ta được kêu gọi phải có đối với nhau. Khi tuyên khấn, chúng ta đặt tay mình vào trong tay một người anh em, đó là một cử chỉ cho thấy tính cách có thể bị tổn thương và mong manh lạ thường. Chúng ta nối kết cuộc đời mình với anh em, và chúng ta chưa biết điều gì sẽ xảy ra. Chúng ta ở trong tay người khác.
Cuốn sách Đời sống anh em kể lại truyện một tu sĩ tên là Tedalto[15], ơn gọi của anh gặp cơn khủng hoảng. “Bất kỳ điều gì anh nhìn thấy hoặc cảm thấy đều giống như cái chết thứ hai đối với anh”. Trước đây, khi vào Dòng, anh là một con người vui tươi và thanh thản, thế mà bây giờ tính khí anh tồi tệ đến độ anh cầm cả cuốn sách Ca vịnh đánh bề trên. Đây là một kinh nghiệm mà ai trong chúng ta cũng đều có cả! Mặc dù chúng ta có thể chót rằng có lẽ Tedalto sẽ chẳng bao giờ được tuyên khấn, thế nhưng cha Jordan Saxony đã không đuổi anh mà còn cùng với anh cầu nguyện cho đến khi tâm hồn anh được chữa lành. Khi nhận một anh em tuyên khấn, chúng ta nhận một trách nhiệm đối với anh, đối với hạnh phúc và sự triển nở của anh. Ơn gọi của anh là điều mà tất cả chúng ta phải quan tâm.
Chúng ta có luôn đấu tranh cho ơn gọi của người anh em không? Nếu như có một người anh em đang gặp khủng hoảng về ơn gọi, tôi có ngoảnh mặt đi chỗ khác không? Tôi có tin rằng việc tôn trọng quyền riêng tư của anh ấy có thể biện minh cho thái độ lơ là mặc kệ của tôi không? Tôi có sợ khi phải lắng nghe những nghi nan anh ấy chia sẻ với tôi không? Hy vọng rằng nếu có lúc nào tôi quẫn đến độ cầm nguyên cuốn sách nguyện đập bề trên, thì anh em của tôi sẽ chịu trách nhiệm về tôi. Tôi cũng phải có thái độ tín nhiệm, trong những lúc khủng hoảng, để chia sẻ với anh em rằng tôi tin anh em hiểu và thương xót tôi.
Với tư cách là những nhà giảng thuyết Lời đã trở nên xác phàm, chúng ta có trách nhiệm đặc biệt đối với những ngôn từ chúng ta nói. Ngôi Lời phải trở nên xác phàm trước hết trong những ngôn từ của “ân sủng và sự thật”. Hiến pháp tiên khởi truyền vị giám sư tập sinh phải dạy cho các tập sinh “đừng bao giờ nói về người vắng mặt, trừ khi nói tốt cho họ”[16]. Đây không phải là một việc đạo đức câu nệ, chi ly, nhằm bôi son đánh phấn che đi khuôn mặt thật của anh em chúng ta. Nhưng đây là một lời mời nói những lời “ân sủng”, nhìn nhận sức mạnh của ngôn từ, có thể làm thương tổn, hủy diệt, lật đổ và phá hoại ngầm anh em của chúng ta.
Học để nói lời sự thật đúng là một thách đố quan trọng. Nền tảng tính dân chủ của chúng ta là dám nói thật với nhau, dám nói ra những căng thẳng và xung đột làm thương tổn đời sống chung và sứ vụ chung. Chúng ta có làm như thế thì thường là làm với ai đó chứ không với người anh em có liên quan. Nếu có bị phiền nhiễu bởi cung cách sống của một anh em, thì chúng ta phải dám nói thật với người anh em đó, một cách lịch sự và huynh đệ. Tu viện hội không phải là chỗ trước tiên để làm chuyện này. Chúng ta phải dám gõ cửa phòng người anh em đó và nói với một mình anh ta thôi (x. Mt 18:15). Chúng ta phải dành thì giờ để nói với nhau, đặc biệt là với những người chúng ta cảm thấy không thân thiện. Việc giao lưu trong tu viện hội sẽ phụ thuộc vào nỗ lực rộng rãi của việc giao lưu bên ngoài. Một khi cố gắng thực hiện điều này, chúng ta sẽ làm cho tình huynh đệ được kiện cường đến nỗi những vấn đề khó nói cũng có thể nói được với nhau. Do đó, có thể có những cuộc bàn luận cởi mở về đời sống chung, về việc tại sao chúng ta thất bại và làm thế nào chúng ta có thể lớn lên, và đó chính là mục đích của công hội thú lỗi ngày xưa. Tổng hội Caleruega (43,2) đã đưa ra những khuyên nhủ tuyệt vời chỉ cho chúng ta thấy ngày hôm nay chúng ta có thể thực hiện điều này như thế nào.
Một trong những dấu hiệu cho thấy trong anh em có sự tin tưởng nhau, đó là chúng ta được chuẩn bị để chọn lựa anh em vào các chức vụ, cả khi những anh em đó còn trẻ tuổi hoặc chưa có kinh nghiệm. Anh Jordan được chọn làm Giám Tỉnh tỉnh dòng Lombardia lúc mới vào Dòng được hơn một năm, và hai năm sau lại được chọn làm Bề trên Tổng quyền. Đó là dấu hiệu ngoại thường về sự tín nhiệm ở một người mà như ngày nay có lẽ thậm chí chưa khấn trọng. Trong Dòng, đôi khi chúng ta tìm những anh em lớn tuổi nắm chặt chức vụ, để khỏi phải sợ những gì anh em trẻ có thể làm và nơi họ có thể đưa chúng ta đến. Và thường những “anh em trẻ này” cũng chẳng còn trẻ gì, có thể cũng đủ già để làm người cha trong gia đình và nắm giữ những vị trí quan trọng ngoài đời rồi. Có khi họ cũng chẳng trẻ hơn tôi là bao! Nhưng việc đào tạo và cách quản trị phải làm cho chúng ta dám phó thác cuộc đời mình cho những anh em sẽ đưa chúng ta đến nơi chúng ta không biết. Khi tuyên khấn, một anh em có thể đặt tay của anh vào tay chúng ta. Nhưng khi chấp nhận anh ta như một người có quyền lên tiếng và có quyền bỏ phiếu, điều đó có nghĩa là chúng ta cũng đặt mình vào tay anh ta.
Dân chủ
Trong một cuộc phỏng vấn trên truyền hình Pháp, khi được hỏi đâu là điểm trọng tâm của linh đạo chúng ta, tôi cũng ngạc nhiên như người phỏng vấn khi tôi trả lời rằng: “Đó là tính dân chủ”. Thật vậy, đó là trọng tâm của đời sống chúng ta. Là một người anh em, tức là phải có quyền lên tiếng và bỏ phiếu. Thế nhưng chúng ta không có những lá phiếu chỉ xét như là những nhóm gồm những cá nhân riêng tư, tìm những quyết định thoả hiệp sẽ lấy đi của mỗi người tự do riêng tư bao nhiêu có thể. Nền dân chủ của chúng ta phải diễn tả tình anh em. Đó là một cách diễn tả sự hiệp nhất của chúng ta trong Đức Kitô, một thân thể duy nhất.
Đối với chúng ta, dân chủ còn là một cái gì cao hơn là việc bỏ phiếu để tìm ra ý muốn của đa số. Nó còn bao gồm việc tìm xem đâu là thánh ý Thiên Chúa. Thái độ chăm chú lắng nghe anh em là một cách diễn tả thái độ vâng phục Chúa Cha. Thái độ chăm chú này đòi hỏi phải có trí hiểu. Khốn nỗi, Thiên Chúa lại không phải lúc nào cũng nói một cách minh nhiên qua người anh em của tôi. Quả thực, đôi lúc điều anh ta nói là sai rõ ràng! Nhưng trọng tâm nền dân chủ của chúng ta là xác tín rằng ngay cả khi điều anh ta nói là ngớ ngẩn và sai lầm, thì trong đó vẫn có một hạt giống nào đó của sự thật đang chờ đợi được giải cứu. Tuy tôi không đồng ý với anh ta, nhưng anh ta vẫn có thể dạy tôi một điều gì đó. Học nghe: đó là một sự thao luyện trí tưởng tượng và lý trí. Tôi phải dám nghi ngờ lập trường riêng của tôi, mở tâm hồn mình đón nhận những vấn đề anh ta nêu ra, để cho mình có khả năng bị thương tổn trước những nghi ngờ của anh ta. Đó là một hành vi đức ái, sinh ra từ lòng đam mê sự thật. Đó thực là sự chuẩn bị tốt nhất để trở thành một nhà giảng thuyết “ân sủng và sự thật”.
Anh Fergus Kerr, trong bài giảng khai mạc tỉnh hội tỉnh dòng Anh quốc năm 1996, có nói:
“Nếu có một điều mà chúng ta buộc phải thu xếp để thực hiện trong công hội, thì đó là phải chứng tỏ nỗ lực kiếm tìm sự thật, lắng nghe điều chúng ta có thể đồng ý ở trong điều chúng ta không đồng ý, giữ lại cái gì là chân thật trong điều người khác nghĩ... Càng sống trong Dòng lâu năm, điều tôi càng quý trọng đó là... một lối suy nghĩ... - lối chờ mong người khác đưa ra những quan điểm mà chúng ta có thể không đồng ý, đồng thời cũng mong có thể hiểu được tại sao người anh em lại tin những điều họ làm. Giá mà chúng ta chỉ có được trí tưởng tượng, lòng can đảm, niềm tin vào quyền năng tối hậu của chân lý và của lòng bác ái để lắng nghe những điều người khác giãi bày, và đặc biệt là để hiểu được những điều anh em sợ khi anh em có vẻ miễn cưỡng chấp nhận điều chúng ta muốn cho anh em thấy. Có nhiều cách để tìm sự thật, nhưng đó là một cách mà tôi hy vọng dòng Anh Em Thuyết giáo sẽ luôn cố gắng thực hành”[17].
Thể chế dân chủ đáng yêu của chúng ta cần có thời giờ. Đó là thời giờ chúng ta mắc nợ lẫn nhau. Nó có thể làm cho chúng ta chán nản. Một số người thấy những cuộc hội họp dài là chán cũng như tôi vậy. Không hiệu quả. Tôi không tin rằng Dòng chúng ta sẽ là một trong những Dòng hiệu quả nhất trong Hội thánh. Và tìm cách để được như thế là sai lầm. Cảm tạ Thiên Chúa vì có nhiều dòng hiệu quả hơn chúng ta. Cảm tạ Thiên Chúa vì chúng ta không cố gắng ganh đua với các dòng đó. Một hiệu quả nào đó là cần thiết nếu như chúng ta không đánh mất sự tự do của chúng ta bằng sự tê liệt. Nhưng nếu chúng ta lấy hiệu quả làm mục đích theo đuổi, thì có thể chúng ta làm băng hoại sự tự do vốn là tặng phẩm chúng ta dành cho Hội thánh. Chúng ta có truyền thống cho mỗi anh em có quyền có tiếng nói, nhưng tiếng nói đó sẽ là chứng tá cho các giá trị Tin mừng mà chúng ta cống hiến cho Hội thánh và đó cũng là điều mà Hội thánh hiện nay cần hơn bao giờ hết.
Bỏ phiếu
Mục đích của việc đối thoại trong các công hội là để cộng đoàn có thể đạt tới sự nhất trí. Điều này không phải lúc nào cũng có thể đạt được. Vì vậy chúng ta phải đi tới một quyết định thông qua việc bỏ phiếu. Một trong những trách nhiệm tế nhị nhất của một bề trên là xét định xem lúc nào là lúc phải bỏ phiếu. Bề trên phải làm sao đưa anh em càng tới gần chỗ nhất trí càng tốt, không phải chờ đợi quá lâu đến độ một cộng đoàn ra tê liệt vì không có quyết định.
Khi phải bỏ phiếu, thì mục đích không phải là để thắng. Bỏ phiếu trong một công hội khác hẳn bỏ phiếu trong quốc hội hoặc nghị viện. Bỏ phiếu, cũng giống như bàn luận, là một tiến trình qua đó chúng ta tìm cách nhận ra “ích chung” đang đòi hỏi cái gì. Bỏ phiếu không phải là để xác định xem ý muốn của tôi hay ý muốn của những anh em khác sẽ thắng, nhưng là để tìm xem việc kiến tạo cộng đoàn và sứ vụ của Dòng đang đòi hỏi cái gì.
Trong truyền thống của chúng ta, bỏ phiếu không phải là một sự tranh chấp giữa các nhóm, nhưng là kết quả của một thái độ chú ý tới điều mà tất cả mọi anh em đã nói. Cố gắng càng nhiều càng tốt, không phản bội bất cứ một xác tín nền tảng nào, tôi phải bỏ phiếu để ủng hộ những đề nghị phản ánh mối quan tâm, nỗi sợ hãi, niềm hy vọng của mọi anh em, chứ không phải chỉ là của đa số mà thôi. Nếu làm khác đi, có thể thực tế là tôi “thắng”, nhưng cộng đoàn thua. Trong chính trường, bỏ phiếu diễn tả sự ủng hộ của người ta đối với một đảng phái. Còn đối với chúng ta, việc bỏ phiếu cho thấy chúng ta là ai, những người anh em dấn thân thi hành sứ vụ chung của Dòng là ai.
Do đó, kết quả của một cuộc bỏ phiếu là quyết định của cộng đoàn, chứ không phải chỉ là quyết định của những người bỏ phiếu ủng hộ quyết định ấy. Đó là cộng đoàn đã đi tới một quyết định. Tôi được tự do không đồng ý với kết quả ấy, và thậm chí đôi khi tôi vận động để có kết quả ngược lại, nhưng tôi diễn tả chân tính của tôi là phần tử của một cộng đoàn bằng cách thi hành quyết định. Tin tưởng vào đa số phiếu mà thôi là một sự canh tân sâu xa trong truyền thống Đa Minh[18]. Hồi xưa, việc chọn một bề trên hoặc thông qua sự nhất trí hoặc qua quyết định của những anh em “khôn ngoan hơn”. Kể ra là cũng rất liều khi tin tưởng vào đa số. Nhưng đối với chúng ta, đó lại là cách diễn tả sự tin tưởng vào anh em.
Chưa bao giờ điều này rõ rệt cho bằng trong cuộc họp bầu cử bề trên. Tự nhiên người ta sẽ bàn bạc với những anh em đồng quan điểm với mình xem ai có thể là một bề trên tốt, nhưng như thế lại trái với bản chất nền dân chủ của chúng ta, vì có một anh em được giới thiệu làm “ứng cử viên” của một đảng. Vì thế việc đến gặp một anh em trước để hỏi xem anh ấy có sẵn sàng để “đứng ra” làm ứng cử viên không, tôi hồ nghi không biết có thích hợp không. Dĩ nhiên tìm hiểu xem một anh em chấp nhận hay từ chối kết quả cuộc bầu cử là điều hữu ích, nhưng có nguy cơ đương sự được coi là ứng viên của nhóm, và chấp nhận kết quả cuộc bầu cử với tư cách là đại diện của nhóm. Cũng không mấy anh em là bề trên tốt lại muốn làm ứng viên, cho dù họ có thể chấp nhận kết quả bầu cử như là một hành vi của đức tuân phục. Việc chỉ tìm kiếm những ứng viên tỏ ra sẵn sàng làm bề trên rất có thể dẫn chúng ta tới chỗ không chọn được những anh em thích hợp nhất cho trách nhiệm.
Một bề trên được bầu lên để phục vụ mọi anh em, vì ích chung của Dòng. Việc người ấy được bầu lên là kết quả của cuộc bầu cử “chúng ta” đã tiến hành, bất kể chúng ta đã bỏ phiếu cho ai. Và một khi người anh em ấy đã được bầu lên, anh cần sự trợ giúp của toàn thể cộng đoàn, vì anh đã được bầu lên bất kể cá nhân tôi đã bỏ phiếu như thế nào. Chúng ta đã cầu xin Chúa Thánh Thần hướng dẫn trước khi bầu cử, và chúng ta phải tin rằng Thánh Thần đã dẫn dắt việc bầu cử.
Một trong những trách nhiệm quan trọng nhất mà tính dân chủ đòi buộc chúng ta là bỏ phiếu chấp nhận các ứng sinh vào Dòng, và chấp nhận cho anh em tuyên khấn. Đó là một cách tuyệt đẹp để diễn tả trách nhiệm chung của chúng ta. Ở đây, việc chúng ta bỏ phiếu như thể đi tìm chân lý, như thể đó là một phần trong tiến trình phân định xem người anh em ấy có được Thiên Chúa gọi để chia sẻ đời sống chúng ta hay không. Việc đó không bao giờ được trở thành cách diễn tả theo kiểu chính trị đảng phái, hoặc thiện cảm hay ác cảm đối với một người anh em. Bỏ phiếu phải là cách diễn tả lòng bác ái chân thực, cố gắng nhận ra điều gì là tốt nhất cho người anh em đó. Nếu chúng ta làm như thế, thì một người anh em bị từ chối không được khấn trọng sẽ không cảm thấy mình bị loại trừ, nhưng cảm thấy rằng thật ra chúng ta giúp người đó nhận ra đâu là ý của Thiên Chúa dành cho mình. Nếu việc bỏ phiếu của chúng ta là cuộc đấu tranh quyền lực trong cộng đoàn, đấu tranh ý thức hệ, tình bạn bè hoặc thù hận, thì chúng ta sẽ phản bội trách nhiệm sâu xa của mình. Chúng ta sẽ khuyến khích những anh em đang trong thời kỳ đào tạo che giấu con người thật của mình, và chúng ta sẽ đào tạo những anh em, đến lượt họ, không thích hợp để quản trị.
[7] Hiến pháp 2.1.
[8] Chorus from “The Rock”, 1934, VI.
[9] Josef Pieper, A Brief Reader on the Virtues of the Human Heart, Paul C. Duggan dịch, San Frnacisco 1991, tr. 24.
[10] Tugwell, sđd, tr. 91.
[11] Hiến pháp 156.
[12] Dominican Ashram 12, 1983 “Dominican Risks” tr. 187.
[13] Caminos de Liberación y de Vida Bilbao, 1989, tr. 24.
[14] Thư 233, trích trong Catherine of Siena, Selected Spiritual Writings, Mary O’Driscoll OP, New York 1993, tr. 37.
[15] III.6
16 I. 13
[17] Công vụ Tỉnh hội của tỉnh dòng Anh quốc, 25-4-1996, tr. 13.
[18] Tugwell, sđd, tr. 182.