Xin giới thiệu bộ bài giảng của cha Bernard Bro, Dòng Đaminh, tại Nhà Thờ Chính Toà Paris Mùa Chay 1975. Đã 35 năm nhưng cảm nghiệm chia sẻ của ngài ở đây, lại hết sức nóng hổi và thấm thía đối với Hội Thánh chúng ta trong hoàn cảnh đang có những nỗi buồn, nỗi lo đến tưởng như tuyệt vọng. Xin đăng thành nhiều kỳ từ bây giờ và dài suốt Mùa Chay 2010.
NGƯỜI NÀO ĐEM TRẢ HY VỌNG CHO TÔI ?
Vào đề, tôi xin mượn lời tâm sự của một nhà văn trong một tác phẩm mới xuất bản, chương “Lời rao gửi đăng trên tất cả các nhật báo hoàn cầu”, đoạn tường thuật về mình bộc lộ một lời thú nhận. Ông viết:
“Xin loan báo với công chúng, tôi đã làm thất lạc niềm hy vọng, vật báu quý nhất của tôi, mất trên đường đời, giữa những năm 34 – 40 tuổi. bất cứ ai nhặt được, xin làm ơn hoàn cho sở hữu chủ chân chính của nó là tôi.
Tôi đang sống tại thành phố Bonn, nước Đức, nhưng nay mai tôi lại sẽ tiếp tục cuộc hành trình. Muốn báo tin cho tôi, tiện nhất là gửi thư đến địa chỉ trên. Tôi còn ở đây cho tới mùa xuân.
Niềm hy vọng của tôi rất dễ nhận ra. Nó bằng tôi, cao 1m74. Không thể lầm lẫn nó với một niềm hy vọng nào khác. Nó có hình dáng rất giống trái tim một người đã trưởng thành. Trước đây, nó không bao giờ trầm lặng, nó linh hoạt, nó phập phồng, y như một quả tim đang sống.
Giữa những năm 34 và 40 tuổi, niềm hy vọng của tôi là như thế. Rồi đột nhiên, tôi mất hết, không biết mình mất cách nào.
Bất cứ ai gặp thấy niềm hy vọng của tôi, người ấy là nam hay nữ, đã lập gia đình hay còn độc thân, là trẻ em hay người ốm yếu, tôi khẩn khoản xin hãy đem trả cho tôi.
Xin lưu ý, nó không phải là một chiếc đồng hồ đeo tay, không phải là một túi xách, cũng không phải là một cặp tài liệu. Nó quý hơn nhiều, nó là niềm hy vọng của một con người. Nó lại không thể dùng cho bất cứ ai. Tôi khẩn khoản xin người nào đem trả thì đừng trả lầm, xin trả đúng niềm hy vọng của tôi. Tôi sẽ ôm hôn người ấy như đã từng ôm hôn mẹ tôi lúc đệ nhị thế chiến vừa kết liễu. Xin làm ơn tìm kiếm giùm. Trước kia, tôi quen sống với niềm hy vọng, nó luôn luôn là bạn đồng hành của tôi.
Xin quý độc giả, quý thính giả hãy nghỉ tay vài phút vào sáng mai, tạm rời công việc, các sổ sách kế toán, bỏ đấy tất cả những gì đang làm, ra ngoài sân một lát, lật lên vài hòn đá, nhìn vào từng bụi cây bãi cỏ, xem có thấy niềm hy vọng của tôi không.”
“Tôi khẩn khoản xin người nào đem trả thì đừng trả lầm, xin trả đúng niềm hy vọng của tôi.”
Thật vậy, thưa anh chị em, thời của những thanh toán loại trừ, thời của những chủ trương trừu tượng hóa để ngụy trang sự thật, thời của những cách thế gây mê tinh thần hoặc những trò gây hấn vô ích, phải chăng tất cả đã qua đi ? Thời mà người ta dễ trách móc chỉ trích hoặc thủ thế vô hiệu quả, phải chăng tất cả đã lùi vào dĩ vãng ?
Thật vậy, từ 3 năm nay, trong Mùa Chay, cùng với anh chị em, tôi muốn nêu lên cho tôi một câu hỏi duy nhất:
Thời của niềm cậy trông bất chấp mọi hoàn cảnh tuyệt vọng đã tới rồi chưa ? Đó không phải là thời của vô ý thức hoặc thoát ly thực tế, không phải thời của lạc quan, cũng chẳng phải thời của khí phách anh hùng. Không ! Đây là thời của căng thẳng đau thương mà không ai có thể tránh được trong đời mình dù chưa cần phải đi tới chặng đường 34 – 40 tuổi.
Phải chăng đã đến thời mỗi người chúng ta phải tự đặt câu hỏi để quyết định về mình, về Thiên Chúa, câu hỏi mà mỗi thế hệ sẽ nêu lên cho thế hệ đi trước: “Hỡi con người, ngươi nói gì về tương lai của ngươi ?” Thật vậy, ngày nay Giáo Hội và Tin Mừng còn có gì để nói với tôi rằng lời cuối cùng không phải là của cái chết và của sự tuyệt vọng ?
Trong phần nhập đề này, chúng ta sẽ tìm hiểu thế nào cho đúng ý nghĩa câu hỏi nêu trên. Chúng ta sẽ dành ra hai bài giảng đều tiên để làm công việc này.
Chắc hẳn ngày nay chúng ta tìm đủ thứ lý do để tuyệt vọng. Vì thế, trước hết, cần phải đi từ định nghĩa chính xác thế nào là lo âu và tuyệt vọng. Thiết nghĩ chúng ta phải khởi đi từ đây mới có thể nắm được ý niệm xác thực về hy vọng. Người ta đã có thể định nghĩa đời sống là toàn thể sinh lực để phấn đấu chống lại sự chết. Đối chiếu tâm linh với thể chất, chúng ta có thể đặt giả thuyết rằng hy vọng chính là tích cực phấn đấu chống lại sự tuyệt vọng.
MỘT THÁCH THỨC
Tôi biết rõ, những điều tôi phát biểu ở đây hàm chứa một thách thức, và tôi giữ vững lập trường. Lời Thiên Chúa có thể còn biến đổi được gì trên thế giới này ? Tôi xin nhấn mạnh: không phải đó là “lời của tôi” đâu, mà là chính Lời của Thiên Chúa, trong chính những điều kiện sinh hoạt của chúng ta hôm nay, kể từ ngôi thánh đường này.
Lời Chúa hiện nay còn được những ai chú ý ? Cựu Ước chép: “Sự khôn ngoan đã kêu lên nơi đầu đường góc phố”. Hơn bao giờ hết, bây giờ người ta cũng muốn ra nơi đầu đường góc phố, nhưng thử hỏi, người ta có còn muốn đến Nhà Thờ Đức Bà Paris này nữa hay không ?
Trước khi lên tiếng ở đây, tôi đã không quên được một số bộ mặt nào đó, đôi khi mang vẻ châm biếm, hoặc tệ hơn, làm ra vẻ lịch sự chiếu lệ, chủ tâm muốn cho tôi biết rằng thật ra, giờ suy niệm hôm nay chẳng qua chỉ là một buổi tập làm văn, chẳng dính dự gì đến sinh hoạt của họ. Có lẽ giờ buổi tập làm văn này cũng gây được phần nào chú ý, nhưng, không hề sửa đổi được chút gì cho đời họ. Với họ, không thể có giả thuyết rằng: lời của tôi mà lại có thể ảnh hưởng gì nhiều đến đời sống !
“Tình thế bây giờ tồi tệ quá !”, dĩ nhiên, ai cũng tin chắc vậy. Ai cũng rõ rằng có một hệ thống phức tạp truyền lan từ một lời tuyên bố, nó “chính thức” đến nỗi sự lo âu đang dâng lên trong tâm trí những nhà tương lai học, bác học, hiền triết, chính trị, hoặc... cả nơi những người nghèo. Đâu đâu cũng thấy những ánh mắt đầy lo âu sợ hãi. Vậy, trước hết, chúng ta nghe một vài nhân vật phát biểu về thời thế hiện nay.
Nhà xã hội học Edgar Morin kêu lên: “Thời đại hiện kim giống thế kỷ thứ hai của đế quốc La Mã. Có nhiều tôn giáo mới xuất hiện, hứa hẹn một sự cứu độ. Nhưng lần này chính thần Pan vĩ đại đã tái sinh.” ( Chú thích của người dịch: Pan là một mục thần trong thần thoại cổ Hy Lạp – La Mã, mỗi lần xuất hiện là gây nên một sự kinh hãi đột ngột khủng khiếp ).
Một giới chức hữu trách ngành vô tuyến truyền hình thú thật: “Đã một thời những ý thức hệ có ý nghĩa. Nhưng bây giờ... Không, tôi không thích thế thế kỷ 20 của chúng ta. Người ta đã bỏ lỡ những cơ hội mà nó mang lại. Tôi quan tâm đến sự thất bại hơn là những thành tựu của thế kỷ này. Ở thế kỷ 19, người ta ít bị vỡ mộng hơn chúng ta. Người ta tin tưởng ở Tiến Bộ, ở Công Lý, ở Xã Hội Mới. Người ta vạch ra những đại lộ và tuyên bố: “Chúng ta tiến ra biển”. Còn bây giờ thì người ta lùi lại về phía một sân sau. Tại sao vậy ? Điều gì đã xảy ra ? Khi một ý thức hệ trở nên duy vật thì nó thất bại.
Quả thật, tất cả đã bế tắc, bị đóng nút ! Không một chế độ nào nào thành công. Quan sát giới nông dân, chúng ta thấy bất cứ ở đâu những khó khăn họ gặp đều không được giải quyết. Ở Hoa Kỳ cũng chẳng hơn gì ở các nông trường tập thể Trung Quốc. Giới sinh viên xứ nào cũng vậy... Khắp nơi trên hoàn cầu, hiện đang là thế kỷ của những con hẻm cụt và những con đường tắc nghẽn. Như thế đấy, tôi không ưa thế kỷ 20 này, tôi không còn thích nó nữa” ( Pierre Desgraupes ).
Eric Weil, một trong những triết gia trứ danh nhất ngành chính trị học, kết luận: “Xã hội lao động đã thuần hóa con người hung dữ từng cuồng loạn trong đấu tranh giữa cá nhân và tập thể. Nó vắt kiệt con người... Nó làm tiêu tan sức ép từ ngoài đến và từ phía những kẻ thống trị độc tài. Xã hội lao động không giải phóng con người, nếu hiểu theo nghĩa bất cứ cuộc giải phóng nào cũng là để tiến tới một đời sống hợp lý... Áp dụng tính hợp lý, nó đã phổ quát hóa con người. Nó không cho con người quyền phê bình công cuộc của nó. Nó chừa lại cho cá nhân thì giờ giải trí. Nó chẳng làm gì và cũng chẳng có thể làm được gì giúp cá nhân suy tư, để cá nhân có thể nói lên cảm nghĩ về thế giới, về bối cảnh sinh hoạt, về bản thân trong bối cảnh đó. Hệ quả là người ta chán ngán sự tiến bộ vô tận và dại dột, chỉ còn cách tìm lối thoát trong bạo lực bất vụ lợi.”
BÌNH MINH HAY HOÀNG HÔN ?
Ta có thể dùng một dụ ngôn tóm tắt mọi chứng cớ đã thu thập như sau:
Anh chị em biết rằng: muốn từ những thành phố của miền California trở về châu Âu, có thể lựa chọn giữa hai đường hàng không. Một đường thông thường ngang qua Chicago và New York, một đường khác, ngắn hơn, ở quá về phía bắc, vượt qua xứ Groenland và vùng Bắc Cực băng giá. Dùng đường bay thứ hai, người ta có nhiều dịp trong năm, về tháng 6 chẳng hạn, từ trên phi cơ có thể chứng kiến một hiện tượng lạ lùng: cùng một lúc, nhìn về sau là hoàng hôn đỏ rực, mà phía trước lại là bình minh xanh mát. Không có đêm ! Không biết phải lấy giờ cho đúng theo mặt trời nào đây ? Bình minh hay hoàng hôn ? Không thể nói quyết được.
Bình minh hay hoàng hôn ? Câu hỏi của chúng ta là: Ngày nay người Kitô hữu có thể theo mặt trời nào để định giờ đúng cho tương lai ? Chúng ta đã bước vào một chu kỳ bóng tối hy một chu kỳ ánh sáng ? Những sử gia, như Arnold Toynbee, đã đếm được 21 nền văn minh kể từ thuở con người bắt đầu sống thành xã hội, nghĩa là đã có 21 lần rạng đông và chiều tà...
Chúng ta có thể tóm lược ở đây kết luận của giới sử học bằng lời tâm sự của một sử gia, ông André Malraux, một trong những nhân vật lỗi lạc nhất thế kỷ này, một người theo trường phái bất khả tri.
Người ta đặt câu hỏi: “Những biến cố đánh dấu thời gian 60 năm qua đã làm đảo lộn một số dữ kiện. Vậy, ông cảm nghĩ thế nào về thế giới ngày nay ?”
Malraux trả lời: “Trước hết, như là một thế giới tạm bợ ! Hồi tôi 20 tuổi, mặc dù có chiến tranh 1914 - 1918, chúng tôi nghiêng nhiều về niềm tin vào một thế giới tiếp tục sống như một thứ cây hiếm, có một không hai. Bây giờ thì trái lại, câu đáp tức thì của tôi là: cảm nghĩ về một cái gì tạm bợ !”
Câu hỏi tiếp theo: “Ông có tin vào một hiện tượng nào đó có thể can thiệp, đem lại cho nền văn minh chúng ta một đà tiến nhẩy vọt mới hay không ?”
Ông đáp: “Khoảng 10 năm nay, thế giới linh cảm và lẩm bẩm rằng: sắp xẩy ra một sự gì đó trong trật tự tinh thần. Tôi nghĩ đã sắp tới lúc lương tri con người ý thức rằng: tình thế này không thế kéo dài thêm nữa !” ( Trích cuộc đàm thoại giữa André Malraux và Guy Suarès ).
Anh chị em thú thật đi. Trong bất cứ khu vực nào, giới đại học, Giáo Hội, các ngành như thiết kế đô thị, bảo vệ môi trường, tổ chức chính trị, tương lai sinh học chẳng hạn, nếu cho rằng hiện nay là tình trạng về chiều thì phải chăng đó là một kết luận sai ?
Ai dám nói rằng mình không có lý do để hoang mang bất định ? Nếu vậy, phải giải thích thế nào là “không thỏa mãn”, thế nào là “không chắc tâm”. Làm thế nào để xác định chỗ đứng của mình trước những biến chuyển dồn dập ?
Chúng ta đang trong thời kỳ suy tàn hay thời kỳ hưng khởi ? Và chước cám dỗ nguy hại nhất làm lệch lạc phán đoán chúng ta, phải chăng đó là thái độ tự cho mình là sáng suốt và luyến tiếc dĩ vãng ?
Thế thì người Kitô hữu biết dồn nghị lực của mình vào hướng nào ? Biết phải phấn đấu theo hướng nào bây giờ ?
Phấn đấu cho một sự giải thích lại về mặt chính trị rằng: Kitô giáo là quyền lực lịch sử làm biến đổi thế giới này chăng ? Hay là phải phấn đấu cho chủ trương vị tha xả kỷ vốn là đặc tính của Tin Mừng ? Vì Tin Mừng chính là con đường hiệp thông, đứng ngoài mọi đấu tranh và đối kháng, đó là chưa kể đến những phúc lộc có tính xã hội mà Đạo chúng ta mang lại cho loài người.
Xin anh chị em trả lời đi.
Các thế hệ trước từng có những người kết luận rằng thời đại của họ là mạt thế, họ từ chối không muốn bị ru ngủ, mê hoặc bởi một huyền thoại tiện lợi và ngây thơ khi đặt trọn tin tưởng vào một sự tiến bộ theo đường thẳng đi tới vô tận. Họ có lầm hay không ?
1919 – 1929 – 1939 là những niên đại định mệnh nhắc cho chúng ta nhớ lại điều này: thế hệ cha anh chúng ta nhận được bài học khắc nghiệt dạy cho họ biết thế giới thời đó là một thế giới đổ vỡ.
Không một quyền lực nào, dù là giáo quyền đi nữa, có thể ngăn cản chúng ta tự hỏi:
Hiện nay là bình minh hay hoàng hôn ? Hỡi con người, ngươi nói gì về tương lai của ngươi ? Ngươi dùng nỗi lo âu của ngươi vào việc gì ?
Phiên dịch: ông Antôn Lê Văn Lộc ( 1916 - 1988 )
Biên tập: Lm. Giuse Lê Quang Uy, DCCT
( Còn tiếp nhiều kỳ )