Đức Giêsu Cho Hôm Nay PDF. In Email
Thứ hai, 11 Tháng 4 2011 21:38

 


ĐỨC GIÊSU CHO HÔM NAY



Jame D.G Dunn

 

Đức Giêsu Nazareth đem đến sự khác biệt nào cho niềm tin và đời sống Kitô giáo? Câu hỏi hướng tới Đức Giêsu xuất thân từ Nazareth xứ Galilê, đấng rao giảng và chữa lành trong đất Israel những năm cuối thập niên 20 và đầu thập niên 30 của thế kỷ thứ nhất, đấng bị đóng đinh ở Giêrusalem theo lệnh của Philatô, tổng trấn La-mã. Chúng ta có thể kể thêm niềm tin Kitô giáo kiên vững về việc Đức Giêsu đã phục sinh sau 3 ngày. Nhưng chúng ta nên dừng tại đó. Nới rộng vấn đề để bao gồm cả Đức Chúa vinh quang của Phaolô, linh mục muôn đời của thư Do thái, và Đức Kitô của kinh tin kính “Thiên Chúa bởi Thiên Chúa, ánh sáng bởi ánh sáng” và những tín điều tương tự phải cần nhiều bài mới nói hết được. Điều quan trọng là chúng ta đặc biệt chú ý đến Đức Giêsu xứ Galilê, tập trung vào cuộc đời 30 năm và 3 năm sứ vụ của Ngài. Bởi vì nếu chúng ta không thể nói một cách có ý nghĩa về Đức Giêsu đó, thì tất cả những gì khác chúng, ta nói về Đức Giêsu sau phục sinh sẽ không có ý nghĩa bao nhiêu. Một Đức Kitô của niềm tin mà không ăn khớp với Đức Kitô của Nazareth thì không có sức thu phục niềm tin của chúng ta.

Niềm tin Kitô giáo cần phải tiếp tục “neo” vào con người Giêsu lịch sử đích thực của Nazareth. Người ta kuôn bị cám dỗ đi tìm một Đức Giêsu mà họ muốn – một Giêsu dạy những tư tưởng mà họ tin, một Giêsu thỏa mãn những nhu cầu tình cảm và xã hội của họ, một Giêsu có thể trở thành một người Mỹ hay người Âu (hay người Á, người Phi) tốt lành. Nhưng một Giêsu được xây dựng như vậy theo hình ảnh của chúng ta sẽ không đem lại nhiều khác biệt cho chúng ta, và có thể trở thành dụng cụ củng cổ những thành kiến của chúng ta và biện minh cho những việc làm mờ ám (đáng nghi ngờ) của chúng ta. Chính Đức Giêsu, đấng đã làm thay đổi xứ Palestine thế kỷ thứ nhất mới là Đấng chúng ta cần quan tâm. Một Đức Giêsu hiện đại sẽ không có thể làm cho chúng ta lương thiện được. Dĩ nhiên việc gặp gỡ Đức Giêsu Nazareth qua các trang sách Tân ước thường đòi hỏi việc nghiên cứu lịch sử nghiêm túc. Qúa khứ không giống như hiện tại. Palestine thế kỷ thứ nhất không giống xã hội chúng ta hôm nay. Nhưng nếu không có sự nghiên cứu như vậy thì Đức Giêsu Nazareth có thể chỉ là con ma của óc tưởng tượng của chúng ta, một tượng gỗ được cung nghinh trong cuộc sống để chúc lành cho các triết lý chính trị của chúng ta. Chỉ khi nào chúng ta nhận ra sự khác biệt giữa Đức Giêsu Nazareth và chúng ta, thì Người mới có thể đem đến cho chúng ta một sự khác biệt. Vậy chúng ta có thể nói gì về Giêsu Nazareth để biểu thị sự khác biệt mà Người vẫn còn có thể đem đến cho những người sống trong một thời đại và văn hóa khác hẳn? Trong phạm vi hạn hẹp, tôi xin nêu lên 3 trả lời quan trọng nhất cho câu hỏi này.

Đức Giêsu Thầy dạy

Ngoài những điều khác chúng ta có thể nói về Đức Giêsu Nazareth, chúng ta có thể khẳng định điều này: Người là một bậc thầy vĩ đại. Mặc dù Người không được đào tạo chính qui (chúng ta có thể nói như vậy) “thầy” chính là danh diệu mà Người thường dùng nhất. Tin mừng cho chúng ta ấn tượng rõ ràng về cách giảng dạy của Người. Chúng ta chỉ cần nhắc lại nhiều câu nói ngắn và khôn ngoan trong Bài Giảng Trên Núi (Mt 5-7), hay những dụ ngôn sống động trong Mt 13 hay Lc 15. Quyền bính và sức mạnh của lời giảng dạy của Ngài thường được nói đến (Mc 6,2; 11,28). Việc Tin mừng ghi lại nhiều lời giảng dạy như vậy minh chứng rõ ràng Người là đấng mà sau này được gọi là “người có uy lực” thu hút mọi người.

Khi chúng ta đặt câu hỏi “thế thì đã sao?” (điều này đêm đến cho chúng ta sự khác biệt gì?), chúng ta có thể trả lời thành 3 phần: Trước hết, đó là cách thức giảng dạy của Người. Rõ ràng đây chính là thành công lớn của Người. Người là một thông đạt tuyệt vời. Đây không phải là những tham luận triết học hay thần học dùng những từ chuyên môn khó hiểu, với mục đích giải thích những ẩn dụ mãnh liệt và những dụ ngôn đáng nhớ lôi kéo sự chú ý và giúp cho mọi người để nhớ. Và tất cả đều rút ra từ kinh nghiệm thường ngày – muối và ánh sáng, chim và bông hoa, xây nhà cửa, chợ búa, phụ nữ mất tiền, bữa tiệc mừng, lòng tham và nợ, và nhiều nữa.

Đây là điều nhắc nhở và một mô hình về sự thông đạt hữu hiệu. Một bức tranh phác họa thường lại dễ nhớ hơn cả trăm câu nói. Hơn nữa, việc dùng các hình ảnh rút từ đời sống thường ngày nói đến cai mà ngày hôm nay chúng ta gọi là vũ trụ bí tích. Đối với những ai có tai để nghe, có mắt để nhìn, thì thiên nhiên và những quan hệ xã hội có thể diễn tả rõ nét hồng ân tuyệt diệu của Chúa và chứa đựng những bài học về sự điên rồ và trách nhiệm của con người, vốn là những bài học rất hùng hồn thách thức lương tri và sự dấn thân của con người. Đối với các xã hội đang chìm ngập trong đống kỹ thuật, hay nhai đi nhai lại những giáo điều xũ rích, thì đây chính là sự sống và giải thoát ngay trong quan niệm (suy tư) về Đức Giêsu là Thầy dạy. Thứ hai, có nhiều lời giảng dạy đặc biệt của Đức Giêsu vẫn còn mở rộng nhãn giới và nuôi sống tinh thần. Mt 6 gồm nhiều chỗ như vậy. Chẳng hạn “Coi chừng đừng làm việc đạo đức trước mặt người khác để khoe khoang” (Mt 6,1). Kinh Lạy Cha (Mt 6,9-13). “Đừng tích trữ kho tàng dưới đất (Mt 6,19-21). “Ai trong các ngươi lo lắng mà có thể sống thêm một giờ chăng? (Mt 6,27) Và trong Mt 6,33; Mc 12,29-31; Lc 10,30-37 (Người Samaritanô nhân hậu). Kể lại dụ ngôn này qua các nhân vật khác nhau trong lịch sử, để nói lên bộ mặt thay đổi của sự thờ ơ và kỳ thị của con người, chứng minh rằng dụ ngôn vẫn còn có sức biến đổi và làm cho chúng ta tốt hơn. Thứ ba, chúng ta có thể nói đến vai trò mô hình (gương mẫu) mà Đức Giêsu thể hiện như một nhân vật gây tranh cãi cho nhiều người. Ngài tranh luận với một số người Do-thái, đặc biệt những người Biệt phái, là một trong những nét nổi bật của trình thuật Tin mừng. Chúng ta có thể nhắc đến việc tranh luận về ngày sabát (Mc 2,23-5,5), về ly dị (Mc 10,2-9) và về việc trả thuế cho hoàng đế La-mã (Mc 12,14-17). Điều đáng nói trong những trình thuật này là cách Đức Giêsu vận dụng những chi tiết trong lý luận và trong phản bác, trong việc giải thích và biện giải, để đi đến một nguyên tắc nào đó, một nguyên tắc nói lên thái độ và cách nói thẳng nói thật của Người, nhưng một nguyên tắc mà mọi người có thể sống (áp dụng) trong những tình huống đặc thù. Nói cách khác, Đức Giêsu đưa ra nguyên tắc, chứ không phải một luật lệ cứng nhắc.

Trong việc tranh luận về ngày Sabát. Đức Giêsu đi thẳng vào lý luận điều gì được phép, và điều gì không được phép trong ngày Sabát và biện minh cho cách hành xử của Người bằng mọi cách nói đến mục đích mà ngày Sabát hướng đến (Mc 2,27). Cũng vậy, trong đoạn sau, Người không thấy có luật hay truyền thống nào cấm Người làm điều thiện hay cứu chữa trong ngày Sabát (Mc 3,4). Trong cuộc tranh luận về ly dị, Người đi thẳng vào luật của Môsê (Đnl 24,1-4) để đi tới việc thiết lập và mục đích chính yếu của hôn nhân (St 2,24). Trong việc đóng thuế cho Cesar, Người đưa ra luật ưu tiên và thực tiễn:Thiên Chúa là trên hết, dù trong thế giới thực tế Cesar vẫn có quyền đòi nhân dân đóng thuế. Vì thế không lạ gì Tin mừng có chỗ đứng cao nhất trong các tác phẩm Kitô giáo, vì nó không phải chỉ là những tường thuật lịch sử thích thú về một cuộc đời lịch sử thú vị. Giáo lý của Đức Giêsu Nazareth mà Tin mừng truyền đạt vẫn còn có “hiệu quả Tin mừng” đối với các thế hệ sau này. Cách trình bày Đức Giêsu như thầy dạy, cách Người dạy và điều Người dạy, vẫn còn có “giá trị lời Chúa” cho hôm nay, vẫn còn có thể biến đổi những người đi tìm chân lý, vẫn còn cung cấp một kiểu mẫu (mô hình) cho đời sống và sự trưởng thành nhân bản.

Người cho chúng ta thấy Thiên Chúa như thế nào

Dĩ nhiên, Kitô giáo không bao giờ hài lòng nghĩ rằng Đức Giêsu chỉ là một thầy dạy, dù giáo lý của Người có sâu sắc và có sức thay đổi đời sống đến đâu đi nữa. Điều làm cho Kitô giáo khác biệt và là lý do phân rẽ Kitô giáo và Do thái giáo, là điều mà các kitô hữu tuyên xưng liên quan đến chính con người Đức Giêsu. Lúc đầu, những người theo Chúa đầu tiên có vẻ như cảm nghiệm và diễn tả niềm tin của họ đối với Đức Giêsu bị đóng đinh, bằng cách qui hướng về sự phục sinh và vĩnh hằng của Ngài trên trời. Chúng ta thấy các bài giảng trong Tông đồ công vụ đề cao sự phục sinh của Đức Giêsu là điểm trung tâm và đỉnh cao, được nhắc đi nhắc lại trong sách Tin mừng đầu tiên (Cv 2,24-36; 4,2.10-12; 10,40-43). Cũng vậy, thánh Phaolô, các tác giả Tin mừng ban đầu, danh hiệu về Đức Giêsu được nói đến nhiều nhất là danh hiệu “Chúa”, nói lên địa vị thuộc về Đức Giêsu khi Ngài phục sinh và lên trời. Và công cuộc truyền giáo và thần học của Phaolô có vẻ như hoàn toàn nhấn mạnh đến việc Đức Kitô đến lần thứ hai (1 Cr 4,9; 7,26-31; 16,22; 1 Tx 4,17).

Chẳng bao lâu chúng ta thấy các kitô hữu tiên  khởi có một bước ngoặt khác thường. Họ bắt đầu nói đến việc Đức Giêsu đóng góp trong việc tạo dựng, Phaolô nói đến “một Chúa Giêsu Kitô, nhờ Người mà mọi vật và chúng ta tồn tại” (1 Cr 8,6). Trong Colosê 1,15-17 Đức Kitô được ca ngợi như “hình ảnh của Thiên Chúa vô hình… trong Người mọi loài trên trời dưới đất được tạo dựng”. Và nhất là trong phần mở đầu của Tin mừng Gioan “Ngôi Lời đã có từ ban đầu, ở với Thiên Chúa và là Thiên Chúa” (Ga 1,1-3).

Cái gì thế này? Vấn đề có vẻ như không ăn nhập gì với đề tài của chúng ta (Đức Giêsu Nazareth). Nhưng vì Đấng Kitô nhờ Người mà muôn vật được tạo thành cũng là Đấng Kitô Nazareth, nên hiểu ngầm là những gì nói về Đấng này thì cũng nói về Đấng kia. Người ta có thể thắc mắc là Đức Giêsu phục sinh và thăng thiên sẽ trở nên không mấy thích hợp cho việc đánh giá về Đức Giêsu Nazareth, để phân biệt giai đoạn sau này của Người. Nhưng những gì nói về Đức Kitô trước khi Người là Giêsu Nazareth hiểu ngầm cũng là nói về chính Đức Giêsu Nazareth. Cho nên chúng ta cần chú ý đến điều mà chúng ta có thể gọi là giai đoạn “tiền hiện hữu” của cuộc đời Đức Kitô, nếu chúng ta muốn đánh giá ý nghĩa mà ngôn từ đó ám chỉ giai đoạn trung tâm, tức là cuộc đời và sứ vụ của Đức Giêsu Nazareth. Đa số các học giả Tân ước có vẻ nhất trí rằng ngôn từ thần học khôn ngoan của Cựu ước và từ văn hóa “liên ước” của người Do thái. Họ muốn nói đến sự kiện là, theo thần học Do thái các thế kỷ trước Đức Giêsu, một trong những cách nói thương xuyên về việc Thiên Chúa tạo dựng là Người tạo dựng qua “đức khôn ngoan”. Thí dụ “Đức Chúa dựng nên trái đất qua sự khôn ngoan” (Prov.3,19): “Đấng giàu có hơn cả sự khôn ngoan, ảnh hưởng tất cả” (Kh 8,5): “Nhờ đức khôn ngoan mà vũ trụ xuất hiện”. Nhưng sự khôn ngoan này là gì? Đôi khi nó có vẻ như một nhân vật. Đức khôn ngoan nói trong prov 8,27-30: “Khi Ngài tạo nên bầu trời, đã có Ta ở đó… bên cạnh Ngài như một thợ cả (hay như một đứa trẻ). Và Philo, triết gia Do thái gần như cùng thời với Đức Giêsu, thường nói đến đức khôn ngoan như là “mẹ của muôn vật”. Có lúc nó lại có vẻ như một bản thể hay sức mạnh xuyên suốt vũ trụ, thí dụ Kh 7,25: “Nàng (sự khôn ngoan) là hơi thở của quyền lực Thiên Chúa và là sự phát sinh vinh quanh của Đấng toàn năng”. Có thể giải quyết khúc mắc về những hình ảnh khác nhau này vì khôn ngoan là cách nói về sự khôn ngoan của Thiên Chúa, về năng lực sáng tạo của Ngài, về sự hiện diện nội tại của Ngài trong và xuyên suốt vũ trụ. Thiên Chúa nguyên Ngài (a se) không ai có thể nhận biết thấu hiểu. Nhưng Thiên Chúa đã tỏ mình ra và thể hiện tính cách sáng tạo của Ngài trong và như sự khôn ngoan. Sự khôn ngoan của Thiên Chúa là tiêu chuẩn của mọi khôn ngoan. Nói cách khác, sự khôn ngoan của Thiên Chúa là cách nói về Thiên Chúa, theo nghĩa là sự mạc khải chính mình được tỏ hiện trong và qua việc tạo dựng. Tính hợp lý trong việc tạo dựng thế giới chính là tính hợp lý của Thiên Chúa, vinh quang của Thiên Chúa. v.v… cũng có chức năng tương tự. Chúng không phải là những thực thể tách biệt khỏi Thiên Chúa, nhưng là Thiên Chúa trong sự mặc khải chính mình qua các thời đại khác nhau và trong những cách thức khác nhau. Chẳng hạn, chúng ta có thể ghi nhận sự diễn tả sâu rộng của sự khôn ngoan trong Kn 10, chính hoạt động của Thiên Chúa bảo vệ các tổ phụ Israel là do sự khôn ngoan.

Trong thế giới cổ đại, sự khôn ngoan của Thiên Chúa này thường được coi như chìa khóa của đời sống chính trực. Đó là bí quyết của đời sống tốt đẹp. Lòng ước ao sự khôn ngoan được diễn tả bằng những từ không thể nào quên được trong Torah, luật Môsê. Vì thế, Ban Sira, Sau bài ca ngợi khôn ngoan vĩ đại của ông, đã kết luận: “Tất cả những điều này là sách giao ước của Thiên Chúa tối cao, luật mà Môsê truyền chúng ta… Nó tràn lan, như Pishon, với sự khôn ngoan (Sir 24,23-25). Cũng vậy Baruch vui mừng vì sự khôn ngoan giấu ẩn của Thiên Chúa đã được ban cho Israel: “Sự khôn ngoan là cuốn sách các giới luật Thiên Chúa, luật tồn tại muôn đời” (Bar 4,1). Đi ngược lại truyền thống này, các tác giả Tân ước rõ ràng dùng từ khôn ngoan để nói về Đức Kitô. Nói tóm lại, họ muốn qui về Đức Kitô điều mà các tác giả Do thái nói về sách Torah. Nói đến Đức Kitô tham gia vào việc tạo dựng chính là nói lên ý nghĩa có tính mặc khải của Đức Kitô. Đức Kitô diễn tả, nhập thân và quả thật cũng là chính sự khôn ngoan Thiên Chúa đã tạo dựng nên trời đất. Trong khi Israel cho rằng cách diễn tả rõ nhất của khôn ngoan Thiên Chúa là Lề luật, thì các kitô hữu cho rằng cách diễn tả rõ nét nhất của cùng một đức khôn ngoan bây giời lại ở nơi Đức Giêsu Nazareth. Trong khi các nhà minh giáo Do thái quả quyết rằng Thiên Chúa đã ban khôn ngoan cho Israel trong một cuốn sách các kitô hữu lại mạnh dạn hơn khi tuyên bố sự khôn ngoan Thiên Chúa đã được ban cho nhân loại trong một con người.

Có thể diễn tả ý nghĩa này một cách đơn giản. Sự khôn ngoan Thiên Chúa là cách nói về Thiên Chúa. Trong phân tích sâu sắc nhất, thì vũ trụ quả là có ý nghĩa, ý nghĩa của Thiên Chúa. Cho nên Đấng nhập thể sự khôn ngoan này diễn tả nào khác (trong vũ trụ). Có nghĩa là Đức Giêsu tỏ cho chúng ta biết Thiên Chúa như thế nào, như chưa hề có ai khác đã làm. Tất cả vũ trụ nói về Thiên Chúa. Luật và các ngôn sứ còn nói rõ hơn. Nhưng Đấng nói về Thiên Chúa rõ nhất là Đức Giêsu Nazareth. Đức Giêsu đem đến cho ta một định nghĩa rõ nhất về Thiên Chúa. Kitô hữu tin một Đấng Thiên Chúa giống như Đức Giêsu. Ngài chính là thươc đo, nhờ đó chúng ta phân biệt được đâu là lý tưởng đâu là ý tưởng sai về Thiên Chúa. Vì thế những điều Đức Giêsu thể hiện trong sứ vụ của Ngài rất quan trọng, không chỉ để chúng ta hiểu về Đức Giêsu mà thôi, nhưng để chúng ta hiểu về Thiên Chúa. Thí dụ, khi Đức Kitô nói Ngài “đến đem tin mừng cho người nghèo” và “và không phải để gọi người công chính, nhưng là người tội lối” (Lc 4,18; Mc 2,17) thì Ngài nói đến các ưu tin của Thiên Chúa. Vì thế Đức Giêsu của năm 30 tiếp tục mở cửa cho chúng ta nhìn vào Thiên Chúa, để mạc khải bộ mặt nhân loại của Thiên Chúa, để trở nên một qui phạm và một định nghĩa về Đấng Thiên Chúa mà các kitô hữu tin tưởng, và vẫn còn tỏ cho chúng ta biết Thiên Chúa như thế nào.

Đấng chiến thắng tử thần

Cách thứ ba mà chúng ta có thể nói về Đức Giêsu hôm nay đã từng là điều quan trọng nhất theo truyền thống, nhưng thật không ngờ lại là điều khó nhất. Tôi muốn nói đến Đức Giêsu trong cái chết và phục sinh. Việc các truyền thống kitô giáo khác nhau nhấn mạnh những điểm khác nhau về vấn đề đỉnh cao này phản ánh khó khăn đó. Đối với một số truyền thống, thì chính sự chết của Đức Giêsu đem lại điểm khác biệt chính yếu cho nhân loại, hay ít nhất cho những ai tin vào Ngài. Đây là một xác tín cho rằng sự chết của Đức Kitô là hiến lễ cho tội lỗi, đem lại sự giao hòa với Thiên Chúa. Đó là cái chết diệt trừ vĩnh viễn vấn đề tội lỗi và tội lụy của con người, bởi vì nó che lấp và xóa sạch (xc Rm 3,25; Dt 9,11-12; và 1Ga 2,2). Nhiều kitô hữu không quen với hình ảnh sát tế súc vật cảm thấy khó hiểu ý nghĩa của ngôn từ này. Làm thế nào mà sự chết của một người cách đây hai ngàn năm có thể ảnh hưởng đến tội lỗi của tôi hôm nay? Không lẽ Thiên Chúa đòi phải có sát tế bằng máu thì Ngài mới tha thứ? Một phần khó khăn là lý do lý lẽ thần học về hiến lễ và giao hòa trong Cựu ước đã không được rõ ràng. Vì thế nhiều khi chúng ta chỉ đoán mò. Qủa không đủ nếu chỉ nói rằng cái chết của Đức Kitô là một tấm gương xúc động của một tình yêu tuyệt đỉnh, mặc dù Tân ước một phần nào đi theo chiều hướng đó (xc Mc 10,43-45; Ga 15,13; Rm 5,6-8). Chắc chắn muốn giải quyết khó khăn này thì phải nhìn nhận sự nặng nề của tội lỗi và phải cắt bỏ khỏi xác thịt con người. Nhưng cái chết của Đức Kitô có giá trị hòa giải như thế nào thì vẫn còn mù mờ, và những người  không tin chuyện sát tế súc vật cũng thấy khó có thể hiểu đầy đủ ý nghĩa về cái chết của Đức Kitô hơn là khi người ta mới gán cho nó. Tuy nhiên ở đây cũng có một cái gì để các kitô hữu bám víu vào, nhất là trong cầu nguyện và phụng tự. Cách thức chính yếu mà kitô hữu bám víu vào (về ý nghĩa cái chết của Đức Kitô) đó là qua phép Thánh Thể, nghi lễ đơn giản có nguồn gốc từ cái đêm mà Đức Kitô bị bội phản, và là một trong những truyền thống lâu đời nhất của phụng tự kitô giáo mà chúng ta biết được. Chúng ta có thể nói đây là cách thứ hai mà cái chết của Đức Kitô vẫn còn đêm đến sự khác biệt cho chúng ta hôm nay. Sở dĩ bữa tiệc ly của Chúa là trung tâm của hầu hết phụng vụ kitô giáo chính vì nó tập trung sắc nét vào chính cái chết của Đức Kitô. Tấm bánh bẻ ra nói lên thân xác tan nát. Rượu đổ ra nói lên máu đổ ra. Như Phaolô nói: “Mỗi lần anh em ăn bánh và uống chén này, anh em tuyên xưng sự chết của Chúa cho tới khi Người đến” (1Cr 11,26). Việc tháp nhập cái chết của Đức Kitô vào phụng vụ kitô giáo, ngay từ ban đầu, vừa nói lên ý nghĩa sự chết của Đức Kitô, vừa đem lại một cách thức “cập nhật hóa” (hiện thực hóa, chiếm hữu: reappropriating) cái chết đó đối với những ai không bao giờ gặp mặt (knew Jesus personally) Đức Kitô, hay nhìn thấy Ngài chết. Thật cũng đáng buồn khi nói rằng Phép Thánh Thần vẫn là điểm hội tụ của sự phân hóa hơn là của sự hiệp nhất kitô giáo. Tuy nhiên, sự quan trọng và quả thực ngày càng quan trọng của nó (Phép Thánh Thể) đối với hầu như tất cả mọi truyền thống nói lên sức mạnh lâu dài của nó. Tại sao Phép Thánh Thể lại có sức mạnh như vật vẫn còn là một điều khó hiểu (mầu nhiệm?). Sự tranh cải thần học không quan trọng bằng thực tế mà các thế hệ đã qua và hiện tại vẫn cảm nghiệm – một sự tương tác mãnh liệt giữa ơn thánh, sự lệ thuộc của con người với một biểu tượng hữu hiệu. Chúng ta không hiểu, và cũng không cần phải hiểu, nhưng tấm bánh bẻ ra và rượu đổ ra, một cách nào đó, nói lên sự đồng hóa với Đức Giêsu Nazareth. Đấng phán những lời đó và chết cách đây gần hai ngàn năm. Và sự đồng hóa nay vẫn còn khả năng chữa lành và hàn gắn những phần bị bể vun và ráp thành một thân thể. Đức Giêsu trong cái chết của mình vẫn còn đem đến sự khác biệt (thay đổi).

Một cách thức thứ ba nữa, thay đổi dễ hiểu, trong đó đỉnh cao đời sống Đức Kitô đêm đến sự khác biệt. Vì theo các chứng từ và truyền thống kitô giáo, cái chết của Đức Kitô không phải là tận cùng. Thập giá không phải là một thất bại vinh quang. Đức Kitô không phải là một anh hùng hết thời (ngã ngựa) đối với các môn đệ của Ngài. Ngay từ đầu, sự quả quyết mãnh liệt rằng Thiên Chúa đã làm cho Đức Kitô sống lại từ cõi chết đã là dấu chỉ của người kitô hữu và là trung tâm điểm của Tin mừng. Một số lý luận rằng tất cả những gì chúng ta có thể nói hôm nay chỉ là sự xuất hiện của niềm tin phục sinh, sự xuất hiện đáng ngạc nhiên của niềm tin vào sự sống lại của Đức Kitô, chứ không chỉ cho các môn đệ. Đây chính là một sứ điệp trung tâm của Tin mừng Kitô giáo. Đức Giêsu đã chiến thắng tử thần. Cái xích bỉ ổi, nô lệ hóa con người với tội ác và sự chết đã bị bẻ gẫy. Đây chính là lý chứng trung tâm của Phaolô trong Rm 6,7-11. Trong 1Cr 15,14-19 Phaolô còn hùng biện hơn. Niềm hy vọng này đứng vững được là nhờ Đức Kitô đã chiến thắng kẻ thù cuối cùng là sự chết (xc Dt 2,9-15). Chết vẫn còn là kẻ thù cuối cùng, một điều mâu thuẫn đối với những ai o bế nâng niu cuộc sống, một sự thất bại đối với những người muốn níu kéo nó bằng mọi giá, một sự ngụp tắt của ánh sáng và một bóng tối vẫn còn xích hóa con người trong sự sợ hãi. Ở đây, một lần nữa. nhãn giới hạn hẹp của chúng ta khó có thể nhìn xa hơn; sự chết là một bức màn vừa dày đặc vừa không thể xuyên qua được. Ở đây, một lần nữa. đầu óc của chúng ta khó có thể thấu hiểu cuộc sống sau cái chết có ý nghĩa như thế nào. Nhưng ở đây, một lần nữa, Tin mừng về cái chết và phục sinh của Đức Kitô vẫn có khả năng nuôi dưỡng thêm niềm tin và gợi lên niềm hy vọng.

Đức Giêsu của hôm qua vẫn có thể là Đức Giêsu cho hôm nay. Dù trong cách đánh giá thấp nhất về Ngài, thì Ngài vẫn là một khuôn mặt thời đại, một trong số rất ít những con người mà đời sống của họ đã làm thay đổi lịch sử, và đem lại một tín hiệu và một thần tượng cho muôn triệu con người. Và ngay trong mức độ đó, nguyên giáo lý của Ngài cũng không thể nào mà không làm cho mọi người nể phục. Và khi chúng ta cộng thêm sự đánh giá của các môn đồ đầu tiên về ý nghĩa của Đức Kitô, về đời sống, cái chết của Ngài, và về tất cả những gì xảy ra sau đó, thì những lời tuyên bố càng có tính bùng nổ và đáng chúng ta chú ý. Các người rao giảng và minh giáo Kitô giáo không nên e ngại trước tính chất kỳ dịu của những tuyên bố này; những tuyên bố đó chứng minh ý nghĩa của Đức Giêsu. Và cho dù chúng ta không hiểu đầy đủ những tuyên bố đó, chúng cũng là những thách thức thú vị cho những người đi tìm chân lý: Đức Giêsu Nazareth này là ai và Ngài đã làm gì để gây ra những tuyên bố như vây? Điều không kém quan trọng ở đây là cách thức mà 3 ý nghĩa nói ở trên gắn liền với nhau. Vì một Đức Giêsu thuần túy chỉ là thầy dạy vĩ đại có lẽ đã không bị đóng đinh. Và không có lý do rõ ràng tại sao một Đức Giêsu thuần túy chỉ là một anh hùng lớn lại được coi là đã chiến thắng cái chết, như chưa từng có vị anh hùng nào trước đó đã làm được điều đó. Hay một Đức Giêsu nhập thể sự khôn ngoan của Thiên Chúa, nhưng lại phải chịu một nhục hình khủng khiếp nhất, hiểu ngầm là vẫn hóa thân trong sự khôn ngoan đó khi chết cũng như lúc sống. Kitô giáo mà Đức Giêsu này là trung tâm điểm không thể chỉ là một triết lý hay một hệ thống đạo đức, hoặc một khải hoàn thuyết, hay một chiến lược để thành công. Đấng đã đến đem Tin mừng cho người nghèo và kêu gọi người tội lỗi cũng là Đấng mà trong Người Thiên Chúa đã hòa giải với thế giới nhờ thập giá. Đức Giêsu này vẫn còn cần thiết cho hôm nay.

(Nguyên tác: Jesu for Today)

An Hòa chuyển ngữ

(TSTH số 8)

 

Tin / Bài mới