Tỉnh Dòng Đa Minh Việt Nam

Tài liệu học tập của ban Mục vụ Giáo xứ: Lịch sử và thần học về giáo xứ

 

 

Lịch sử và thần học về giáo xứ


Chúng ta đã biết là thánh Tôma Aquinô không viết một khảo luận về Giáo hội trong bộ Tổng luận thần học, bởi vì vào thế kỷ XIII Giáo hội chưa phải là một đề tài tranh luận sôi nổi. Ngài chỉ đề cập đến Giáo hội khi bàn đến Đức Kitô là thủ lãnh và khi bàn đến các bí tích. Như mọi người đã biết, Giáo hội đã hiện hữu từ thế kỷ I nhưng môn Giáo-hội-học thì mới ra đời hồi thế kỷ XVI.

Một cách tương tự như vậy, giáo xứ là một thực thể hiện hữu từ lâu, nhưng mới trở thành một đề tài suy tư thần học kể từ công đồng Vaticanô II. Việc suy tư thần học không chỉ dừng lại ở lý thuyết nhưng mang theo nhiều kết luận thực hành, cách riêng khi phải đối phó với những thách đố mục vụ của thời đại hôm nay. Chỉ cần biết rằng có những ý kiến đòi dẹp bỏ các giáo xứ bởi vì nó lỗi thời rồi; nhưng vấn đề là sẽ lấy gì mà thay thế nó?

Trong phần thứ nhất của bài thuyết trình, tôi xin trình bày hai điểm: a) lịch sử giáo xứ; b) quan điểm thần học về giáo xứ.

A. Lịch sử giáo xứ

Giáo xứ là gì? Chúng ta nên phân biệt giữa từ ngữ và nội dung.

- Xét về từ ngữ, ở Việt nam, trước đây, xứ là tiếng gọi ngoài Bắc (và đi theo cha xứ, hay chánh xứ); trong Nam gọi là họ hay họ đạo (và đi theo cha sở , hay chánh sở). Với cuộc di cư năm 1954, người Bắc mang cái “xứ” vào Nam, và biến cái “họ” thành một chi nhánh của xứ (họ lẻ). Dù sao thì cả hai danh từ xứ (gợi lên ý tưởng “xứ sở quê hương”) và họ (gợi lên ý tưởng “họ hàng thân thuộc”) đều muốn nói lên một sự ràng buộc với gia đình họ hàng thân tộc; nói tắt, nó nói lên một cộng đồng.

- Trong tiếng Latinh, paroecia (từ đó phiên âm ra tiếng Pháp là paroisse và tiếng Anh là parish) bắt nguồn từ paroikia. Trong nguyên ngữ Hy lạp, paroiken có nghĩa là “sống gần”, và tính từ paroikos có nghĩa “láng giềng”. Vì thế paroikia được gồm bởi những người “sống gần nhau”. Đó là nói theo nghĩa thông thường.  Tuy nhiên trong bản dịch LXX paroikein có nghĩa là sống tha hương, nghĩa là tại nơi mà mình không có hộ khẩu. Cựu ước cũng như Tân ước áp dụng paroikia cho cộng đoàn tín hữu, được coi như là  những người ngoại kiều (Ep 2,19), tạm trú (1Pr 2,11), lữ hành (Dt 11,13), giống như dân Israel xưa kia sống lưu vong bên Ai cập (Cv 7,6.29; 13,27).

Vào lúc đầu, paroikia áp dụng cho toàn thể Dân Thiên Chúa lữ hành trên đời, nghĩa là Hội thánh ekklesia. Với sự phát triển của các giáo đoàn, từ thế kỷ II, nó được áp dụng cho một cộng đồng tín hữu tại một địa phương được ủy thác cho một giám mục. Nói cách khác, trong những thế kỷ đầu tiên, paroikia tương đương với “giáo phận”. Sang thời Trung cổ, khi vùng phụ trách của giám mục được gọi là  dioecesis (nên biết là tổ chức hành chánh Đế quốc Roma, dioecesis là một “trấn” gồm có nhiều “tỉnh”), thì paroikia mới ám chỉ vùng do linh mục phụ trách; cha xứ được gọi là parochus.

Sau khi đã xác định từ ngữ, chúng ta đi vào thực chất.

1/ Từ đầu cho đến công đồng Trentô

Lịch sử của các giáo xứ tiến triển qua nhiều chặng. Như vừa nói, trong những thế kỷ đầu tiên, đơn vị hành chánh của Giáo hội địa phương là giáo phận, thường chỉ giới hạn tại các thành phố, và đặt dưới sự điều khiển của các giám mục. Đành rằng giám mục có những cộng sự viên (các linh mục, trợ tá và những tác viên khác), nhưng các linh mục sống chung với giám mục tại nhà thờ chánh tòa, và khi cần thì được cử đến các nhà thờ khác trong thành phố để dâng Thánh lễ, rồi sau đó trở về Tòa giám mục.

Với sự tăng trưởng của Giáo hội, nhiều nhà thờ được cất lên ở thôn quê. Các linh mục được cử đến đây một cách thường trực để cử hành các bí tích. Một yếu tố đáng để ý là một số lãnh chúa cũng xây cất các thánh đường và đề cử các ứng viên phụ trách các nhà thờ “tư gia” ấy. Khỏi nói ai cũng đoán được, việc đào tạo các linh mục làm “thầy cúng” như vậy rất sơ sài. Họ cũng chẳng thấy mình liên đới với giám mục và các linh mục khác.

Công đồng Trentô đã muốn lấy lại cho các giám mục quyền bổ nhiệm các cha xứ, đồng thời buộc các giám mục phải đào tạo linh mục tại các chủng viện. Giáo xứ trở thành một đơn vị hành chánh của giáo phận, được ủy thác cho cha sở, dưới quyền chỉ đạo của giám mục.

2/ Từ Trentô đến Vaticanô II

Quan điểm thần học về giáo xứ của công đồng Trentô được thu nhận nơi bộ giáo luật 1917. Giáo xứ được coi như một đơn vị hành chánh của giáo phận, cần có ranh giới rõ rệt, với một nhà thờ riêng biệt, được đặt dưới sự quản trị của một linh mục làm cha xứ. Dù sao, bộ giáo luật dành nhiều khoản cho cha xứ hơn là cho giáo xứ. Cha xứ được ủy thác việc coi sóc các linh hồn (cura animarum), cách riêng qua việc giảng dạy và ban bí tích.

Công đồng Vaticanô II đã phát triển một hình ảnh mới về Giáo hội: a) Giáo hội không phải là một cơ chế pháp luật gồm bởi hành giáo phẩm (chóp đỉnh là Giáo hoàng), nhưng là Dân Thiên Chúa, trong đó các tín hữu đều có trách nhiệm đối với việc loan báo Tin mừng; b) Giáo hội được thể hiện cụ thể tại một cộng đoàn địa phương cử hành Thánh lễ, dưới sự chủ tọa của Giám mục. Giáo hội phổ quát là sự thông hiệp giữa các cộng đoàn địa phương.

Những quan điểm về Giáo hội địa phương cũng làm thay đổi quan điểm thần học về giáo xứ, nhấn mạnh đến cộng đoàn hơn là cha xứ. Đang khi đó, bộ mặt của các giáo xứ cũng bị thay đổi do nhiều yếu tố khác:

- Cuộc di dân từ thôn quê lên thành thị biến các giáo xứ thành phố trở thành “tứ chiếng”: dân cư thành phố thuộc nhiều gốc gác khác nhau, với nhiều phong tục khác nhau.

- Các giáo xứ đông đảo khiến cho các tín hữu không còn cảm thấy tính “gia đình” của nhà Chúa. Họ tụ họp nhau quanh những phong trào, hội đoàn, hoặc “cộng đoàn cơ bản”.

- Do cuộc sống “tục hóa” tại các thành phố, giáo xứ không còn là trung tâm sinh hoạt của người tín hữu nữa. Ngoài nhà thờ, họ còn lui tới các trung tâm văn hóa, thương mại, giải trí khác.

Đó là tình hình tại các xứ đạo toàn tòng (tại châu Au và châu Mỹ latinh), từ đó đặt ra vấn đề “tái loan báo Tin mừng” (re-evangelization) hoặc “loan báo Tin mừng cách mới mẻ”. Tình hình tại các nước truyền giáo còn phức tạp hơn nữa, bởi vì còn nhiều người chưa được nghe loan báo Tin mừng.

B. Thần học về giáo xứ

Có thể nói được là thần học về giáo xứ mới ra đời từ công đồng Vaticanô II. Trước đó, giáo xứ chỉ là một đơn vị hành chánh của giáo phận được giao cho cha xứ chăm sóc (cura animarum). Sau công đồng, thần học về giáo xứ được thành hình nhấn mạnh đến chiều kích cộng đồng, làm thể hiện Giáo hội.

Chúng ta sẽ xét qua thần học về giáo xứ dưới ba khía cạnh: 1/ đạo lý; 2/ giáo luật; 3/ mục vụ.

1/ Đạo lý

Dựa theo các bản văn của công đồng Vaticanô II, người ta nêu bật hai yếu tố sau đây của giáo xứ: cộng đồng Giáo hội địa phương, truyền giáo.

a) Cộng đồng Giáo hội

Theo công đồng, Giáo hội là cộng đồng Dân Thiên Chúa, chứ không phải là một tổ chức pháp lý do hàng giáo phẩm lãnh đạo. Một cách tương tự như vậy, Giáo xứ được quan niệm trước hết như là một cộng đồng tín hữu (communitas fidelium) nơi thể hiện Giáo Hội địa phương.

Ý tưởng về giáo xứ làm hiện diện Hội thánh tại một nơi đã được Vaticanô II nói tới hai lần: trong Hiến chế về Hội thánh số 28, và Hiến chế về Phụng vụ số 42.

- Hiến chế về Hội thánh số 28b: trong mỗi cộng đồng tín hữu địa phương, các linh mục ra như làm cho Giám mục hiện diện... Dưới quyền của Giám mục, họ thánh hóa và cai quản phần của đoàn chiên của Chúa được giao cho mình, làm cho Hội thánh phổ quát nên hữu hình tại địa sở của mình, và đóng góp rất lớn vào việc xây dựng nhiệm thể Chúa Kitô.

- Hiến chế về Phụng vụ số 42: Các giáo xứ, được thiết lập từng nơi và đặt dưới sự điều khiển của một mục tử thay mặt cho Giám mục, làm hiện diện Hội thánh hữu hình được thành lập khắp hoàn vũ.

b) Một yếu tố khác của giáo xứ là tính cách sinh động, truyền giáo. Giáo xứ được quan niệm như là một chủ thể làm chứng cho đức Kitô trước mặt thế giới. Điều này được nhắc tới trong sắc lệnh về Tông đồ giáo dân (số 10b, 18a, 30c) và sắc lệnh về hoạt động Truyền giáo số 15b, 37a. Chúng tôi chỉ xin trưng dẫn đoạn số 10 của văn kiện về Tông đồ giáo dân.

Giáo xứ trình bày một kinh nghiệm quý báu về việc tông đồ cộng đồng, xét vì nó quy tụ những dị biệt nhân tố và lồng ghép chúng vào tính cách phổ cập của Hội thánh. Trong các giáo xứ, các giáo dân nên phát triển thói quen làm việc chặt chẽ cùng với các linh mục, đưa ra cho cộng đồng Hội thánh những vấn đề riêng tư, những vấn đề của thế giới, những câu hỏi liên can tới phần rỗi nhân loại, để cùng cứu xét, thảo luận và giải quyết chung. Tùy theo khả năng của mình, các giáo dân hãy cộng tác với những dự án tông đồ và truyền giáo của họ đạo của mình[1].

Những điều vừa nói được Đức Gioan Phaolô II lặp lại trong tông huấn "Người tín hữu giáo dân" (Christifideles laici, 30/12/1988) số 27. Giáo xứ làm thể hiện Hội thánh tại một địa phương, không những vì biểu lộ tính cách thông hiệp khi cầu nguyện, tham dự Thánh lễ, nhưng còn qua các sinh hoạt cộng đồng nhằm đem Hội thánh vào cuộc sống thực tại của nghề nghiệp, môi trường xã hội. Đó là chiều kích truyền giáo của giáo xứ.

2/ Giáo luật

Điều 515§1 của Bộ giáo luật (1983) định nghĩa giáo xứ như sau:

Giáo xứ là một cộng đồng tín hữu, được thiết lập cách bền vững ở trong Giáo hội địa phương, và việc săn sóc mục vụ được ủy thác cho Cha Sở làm chủ chăn riêng, dưới quyền của Giám mục giáo phận.

Ta có thể vạch ra bốn yếu tố.

a) Giáo xứ là một "cộng đồng các tín hữu" (certa communitas fidelium). Bộ luật cũ đặt yếu tố "lãnh thổ" như là căn bản của giáo xứ; nhưng bộ luật hiện hành lấy yếu tố "cộng đồng" lằm căn bản, không những nhằm nhấn mạnh rằng con người quan trọng hơn lãnh thổ, nhưng nhất là muốn nói tới việc những con người ấy hợp lực để chung nhau hoạt động, dưới sự điều khiển của một chủ chăn.

b) Cộng đồng ấy được thiết lập cách bền vững (stabiliter). Tự nó, tiếng "cộng đồng tín hữu" có thể áp dụng vào một hội đoàn, một phong trào, thậm chí một buổi hội họp (chẳng hạn “cộng đoàn phụng vụ”). Nhà lập pháp muốn thêm từ ngữ "bền vững" để muốn nói rằng cộng đồng giáo xứ không phải là nay họp mai tan, hoặc có thể quy tụ tùy theo ý muốn cá nhân. Giáo xứ có tính cách bền vững theo pháp lý, xét rằng nó được thành lập do một nghị định của giám mục, với những hậu quả pháp lý của nó.

c) "ở trong Giáo hội địa phương": nằm nêu bật mối liên hệ giữa giáo xứ với giáo phận. Giáo xứ không phải là Giáo hội địa phương, nhưng chỉ là thành phần của nó.

d) "việc săn sóc mục vụ được ủy thác cho Cha Sở làm chủ chăn riêng, dưới quyền của Giám mục giáo phận". Giáo xứ là một cộng đồng gồm bởi các thành phần khác nhau của Dân Chúa (giáo sĩ, tu sĩ, giáo dân), nhưng được giao cho một linh mục làm chủ chăn nhằm cho thấy rằng căn bản của đời sống cộng đồng giáo xứ là tác vụ Lời Chúa và Mình Chúa. Linh mục làm nhịp cầu nối kết giữa cộng đồng giáo xứ với giáo phận dưới sự lãnh đạo của giám mục.

Điều 515§1 chưa cung cấp tất cả khái niệm thần học về giáo xứ[2]; nhưng từ đó cũng mang theo nhiều thay đổi về thể chế.

(i) Yếu tố quan trọng trong giáo xứ là cộng đồng, chứ không phải là lãnh thổ. Vì thế, có thể thiết lập những giáo xứ “tòng nhân” chứ không tòng thổ (đ. 518). Có lẽ ở Việt Nam, người ta nghĩ đến giáo xứ dựa theo ngôn ngữ (thí dụ giáo xứ Việt kiều ở bên Hoa kỳ, Uc, hoặc giáo xứ cho người Vinh ở TPHCM), nhưng còn nhiều tiêu chuẩn khác (thí dụ giáo xứ đại học, dành cho các sinh viên). Trong bộ luật cũ, mỗi giáo xứ buộc phải có nhà thờ riêng; bộ luật hiện hành không đòi hỏi điều đó.

(ii) Thành phần cốt yếu của giáo xứ là các giáo dân. Họ là những nhân sự chủ động. Bộ giáo luật dự trù sự tham dự của các giáo dân vào việc quản trị giáo xứ qua các hội đồng mục vụ (điều 536), một thực thể khá quen thuộc ở Việt Nam nhưng chưa được nói đến ở trong bộ luật cũ 1917.

(iii) Hai thể chế mới được đặt ra liên quan đến cha xứ và cha phó.

- Cha xứ. Có ba dạng cha xứ: (a) một cha xứ cho một giáo xứ; (b) một đội cha xứ cho một giáo xứ; (c) một đội cha xứ cho nhiều giáo xứ. Tiếc rằng ở Việt Nam, chúng ta chưa mang ra thực hành hình thức đội cha xứ (équipe, team).

- Cha phó. Có hai dạng cha phó (điều 545§2): (a) một cha phó cho một xứ để lo cho toàn thể giáo xứ, hoặc một phần giáo xứ, hoặc một nhóm người cụ thể; (b) một cha phó cho nhiều xứ, đặc trách một hai vài công tác nào đó (chẳng hạn mục vụ công nhân). Hình như ở Việt Nam chưa có cha phó liên xứ.

3/ Mục vụ

Từ những điều vừa nói trên, chúng ta có thể phác họa căn cước của một giáo xứ như sau.

Giáo xứ là một cộng đồng thể hiện Giáo hội tại một địa phương. Do đó giáo xứ cần phải biểu lộ những đặc tính của một cộng đồng Giáo hội, đó là: martyria, leiturgia, koinonia, diakonia, missio[3].

a) martyria: làm chứng tá. Giáo xứ là một cộng đồng lắng nghe Lời Chúa và làm chứng tá có đức tin bằng lời giảng và bằng đời sống.

b) liturgia: cử hành phụng vụ. Giáo xứ là một cộng đồng được triệu tập để ca tụng những kỳ công của Thiên Chúa, đặc biệt qua việc cử hành Thánh lễ là nguồn mạch và chóp đỉnh của cuộc sống và hành động.

c) koinonia: hiệp thông. Giáo xứ là một cộng đồng hiệp thông: hiệp thông giữa những cá nhân trong giáo xứ, hiệp thông giữa những hội đoàn, những tầng lớp xã hội. Sự hiệp thông của giáo xứ còn mở rộng ra sự hiệp thông với giáo phận và Giáo hội phổ quát

d) diakonia: phục vụ. Giáo xứ là một cộng đồng phục vụ, mở rộng đến việc đáp ứng những nhu cầu tinh thần và vật chất của các phần tử, cũng như của những người láng giềng.

e) missio: truyền giáo. Giáo xứ chia sẻ sứ mạng đem Tin mừng cho những người chưa biết Chúa, hoặc những người đã lìa bỏ nhà thờ.

Để làm sáng tỏ những điều vừa nói, ta hãy đối chiếu mô hình của giáo xứ cổ điển với mô hình sau công đồng.

+ Mô hình cổ điển

- mũi nhọn mục vụ: chú trọng đến các việc đạo đức, các cuộc rước kiệu; giáo lý nhắm vào thiếu nhi để chuẩn bị rước lễ, thêm sức

- tác nhân: cha xứ bao thầu hết

- hợp tác: không có hội đoàn, không có hội đồng mục vụ

- hoạt động xã hội: không có

+ Mô hình hiện tại

- mũi nhọn mục vụ: loan báo Tin mừng qua việc đào tạo giáo lý cho người lớn cũng như thiếu nhi; giúp cộng đồng tham gia phụng vụ cách ý thức nhờ những lớp học Kinh thánh.

- tác nhân: cha xứ được sự hỗ trợ của giáo dân trong việc điều hành

- hợp tác: giáo xứ gồm nhiều hội đoàn thể, tạo nên cộng đồng của các cộng đồng

- hoạt động xã hội: ngoài những công tác bác ái từ thiện, còn quan tâm đến những vấn đề xã hội (ma túy, người già neo đơn), thăng tiến nếp sống (di dân, thất nghiệp, vv)

Bức tranh vừa rồi đòi hỏi một sự thay đổi não trạng, cách riêng từ phía cha xứ

- Một mình cha xứ không làm nên giáo xứ. Giáo xứ gồm bởi tất cả các tín hữu. Nhiệm vụ chính của cha xứ không phải chỉ lo xây nhà thờ cho bằng xây dựng cộng đồng.

- Việc xây dựng cộng đồng đòi hỏi một năng khiếu mới: cha xứ cần có tài lãnh đạo để huy động các “lực lượng” trong giáo xứ. Trước đây, nhiều khi cha xứ coi mình như một ông xã trưởng, một viên chức hành chánh, chỉ lo các thủ tục như là giảng dạy, ban hành bí tích. Bây giờ cha xứ cùng làm việc với các phần tử khác (giáo sĩ, tu sĩ, giáo dân) để chu toàn sứ vụ.

- Dù sao, cộng đồng giáo xứ không chỉ an tâm với những “con chiên ngoan đạo”, nhưng còn để ý đến những người chưa người chưa biết Chúa, những người đã lìa bỏ nhà thờ.

 

 

Thư mục

 

Miguel Paya Andrés, “Parroquia”, in: Nuevo Diccionario de Catequetica, dir. Por V.M.Pedrosa et al., ed. San Pablo Madrid 1999.

L. Meddi, “Nuove immagini della parrocchia, in che senso?” in: Orientamenti pastorali 49 (2001)/5, 39-47.



[1] Lưu ý: ở đây công đồng dùng tiếng "familia ecclesiastica: gia đình Hội thánh"; chúng ta có thể dịch là "họ đạo", ví Hội thánh như họ tộc.

[2] Điều 515§1 trích dẫn các văn kiện sau đây của công đồng Vaticanô II: PV 42; HT 26; GM 30; GD 10; TG 37. Sách Giáo lý Hội thánh Công giáo ở số 21 còn bổ túc thêm vào định nghĩa của Bộ Giáo luật : “Giáo xứ là nơi mọi tín hữu có thể tập họp để cử hành bí tích Thánh Thể mỗi Chúa nhật. Giáo xứ đưa dân Kitô hữu vào sinh hoạt thông thường của đời sống phụng vụ, và tập hợp họ để cử hành phụng vụ, giảng dạy cho họ giáo lý cứu độ của Đức Kitô; thực thi đức mến Chúa trong các công việc từ thiện và huynh đệ”.

[3] Những điểm này lấy từ tài liệu về mục vụ giáo xứ của Dòng Phan-sinh (xem thư mục).