TRƯỜNG PHÁI ĐA MINH
Do Cha Pie Régamey, OP
Trước đây không lâu, mỗi gia đình thiêng liêng đều xác định linh đạo riêng của mình. Ngày nay, trong nhiều gia đình đó, nhiều người phủ nhận rằng gia đình họ có một linh đạo riêng. Đây là một phản ứng lành mạnh, vì cho thấy người ta khước từ những hệ thống khả dĩ làm cho các linh hồn có những thái độ giả tạo, và người ta muốn sống theo tinh thần thuần túy Kitô, thuộc về Giáo hội một cách vô hạn. Nhưng điều chính yếu là nhận thấy rõ ràng mỗi người hiểu linh đạo là gì và đây hẳn là chuyện khác, và nhận thấy những gia đình thiêng liêng khác nhau có thể nghĩ họ không có linh đạo riêng theo những ý nghĩa khác nhau như thế nào. Những lý lẽ nêu ra thì khác nhau về cường độ, về phần sâu sắc, về tầm quan trọng.
TÍNH CÁCH PHỔ QUÁT ĐA MINH
Về trường hợp Đa minh, thì những ý kiến khác nhau hơn là về bất cứ trường hợp nào khác, vì điều mà chúng tôi ưa gọi là tính cách phổ quát thiết yếu của Dòng các Anh em thuyết giáo. Ngay trong nội bộ của Dòng, người ta cũng không luôn có một ý thức khá rõ rệt và khả hữu về đặc tính này : Do đó "tinh thần Đa minh" (phương chi, quan niệm mà người ta có từ bên ngoài về tinh thần này) biến thiên từ môt tinh thần phổ quát, mà không một Dòng nào khác có thể có, theo một trương độ rộng lớn như thế, đến một não trạng riêng tư khá hẹp hòi. Chúng tôi xin giải thích:
Dòng các Anh em thuyết giáo (Ordo Praedicatorum) là việc tổ chức một chức năng tông đồ của Giáo hội thành một cơ chế tu trì. Chức năng này, tự bản chất, là chức năng của Giám mục đoàn, vì tập đoàn này chính là tông đồ đoàn, tồn tại với chính chân tính riêng của mình và đổi mới qua các thế kỷ. Theo truyền thống, tập đoàn này, trước thánh Đa minh ưa xưng mình là tập đoàn các nhà thuyết giáo, vì quan niệm việc rao giảng Tin mừng như là nhiệm vụ hàng đầu của mình. Nhiều hoàn cảnh lịch sử đã buộc Tòa thánh uỷ thác cho Dòng được thánh Đa minh sáng lập, nhiệm vụ hỗ trợ hàng Giám mục trong chức năng này. Việc Dòng được "đặc biệt" uỷ thác nhiệm vụ ấy, thì ngay danh xưng cũng nói lên ý nghĩa các dứt khoát.
Trong vấn đề này, chiếu theo một qui luật thường xuyên trong đời sống Giáo hội, những hoàn cảnh lịch sử đã minh khai nhiều năng lực còn tiềm tàng tới lúc bấy giờ, và do đó phải phân biệt trong cơ chế vốn đã xuất hiện vào một thời gian đã chấm dứt, những gì không đáng được tồn tại và những gì còn giá trị cho mọi thời - kể cả một số dấu vết mà thời gian đó để lại, cũng duy trì một giá trị như thế. Mà những phương hại đến đặc nhiệm tông đồ của Dòng các Anh em thuyết giáo có thể đến và thực sự đã đến từ mọi phía: từ hàng Giám mục, từ những cơ chế tông đồ khác, và nhất là từ chính mình.
Hàng Giám mục, vào lúc Dòng này khai sinh, đang quá vướng mắc trong hệ thống phong kiến, để có thể rao giảng Tin mừng thật đàng hoàng. Hàng Giám mục cũng không được giúp đỡ bởi một hàng Giáo sĩ có học thức và nhiệt thành với việc mở mang nước Chúa. Nhưng ngàu nay, khi mà những lạm dụng ấy đã được chỉnh đốn, thì lý do tồn tại trong Giáo hội của một Dòng đặc trách việc cứu rỗi các linh hồn qua việc rao giảng Tin mừng, không còn tính cách khẩn trương nữa. Dòng không có vẻ cần thiết hơn là trong suốt 12 thế kỷ mà Giáo hội đã không có nhờ đến nó. Vả lại, số những Dòng và tu hội chuyên trách việc tông đồ đã gia tăng: Dòng các Anh em thuyết giáo chỉ là một trong số những Dòng khác và không có vẻ gì là có tư cách nhất, có tài năng nhất để đảm trách tất cả mọi nhiệm vụ tông đồ: cấu trúc đan tu và kinh sĩ của Dòng cũng như tinh thần kinh viện hình như làm cho Dòng khó thích nghi hơn. Khi thử thích nghi, phải chăng là phương hại đến tính chất truyền thống của Dòng? Chính Dòng chỉ tỏ ra xuất sắc trong đặc nhiệm tông đồ ở lúc đầu thôi. Ngay từ cuối thế kỷ đầu tiên, tinh thần của Dòng đã mất phần nào tính cách cởi mở và mềm dẻo, cùng một lúc với khả năng sáng tạo và niềm phấn khởi. Không phải là ngẩu nhiên mà Dòng đã hiến cho Giáo hội vì "thày chung", nhưng, trong chiều hướng giáo thuyết này cũng như trong các chiều hướng khác, đã thấy Dòng do dự giữa thái độ co rút để trung thành thật sát với quá khứ, và mạo hiểm chạy theo những "mốt" nhất thời về tư tưởng và cuộc sống. Sáu hay bảy thế kỷ đầy thăng trầm trong những cảnh huống lịch sử rất khác biệt với thuở ban đầu, đã từ lúc ấy để dấu vết trên bộ mặt của Dòng. Chắc chắn những điều trên không thuận lợi, nếu ngày nay Dòng còn dám có hoài vọng thực thi đặc nhiệm tông đồ trong Giáo hội.
Những khó khăn mà chúng tôi vừa tóm thật gọn, nhưng với những nét nghiêm trọng nhất của chúng, báo cho chúng ta biết những điều kiện, mà nếu không có thì mơ tưởng đến tính cách phổ quát của Dòng Đa minh là lỗi thời và rất ngây ngô. Chúng giúp chúng ta xác định vị tri cho mầu nhiệm của Dòng, ấn định giới hạn của mầu nhiệm ấy và đưa chúng ta vào đó. Chính là mầu nhiệm của sự "sung mãn" tông đồ. Thực ra, trong toàn bộ Dòng đã chỉ thể hiện sự sung mãn đó ở thế kỷ đầu của mình, cho tới thời đại chúng ta (và ngày nay, hình như ngày cảng có thêm trường hợp đó), một số tu sĩ xuất sắc như cha Lacordaire, hoặc ẩn danh trong những nhiệm vụ khiêm tốn, đã đạt được sự sung mãn đó dưới rất nhiều cách, lát nữa chúng tôi sẽ cố gắng nhân ra những thành tố lớn của sự sung mãn đó, những thành tố bất biến dưới nhiều hình thức khác nhau. Sự sung mãn này, khi nào có, thừa nhận cách tuyệt hảo rằng Dòng, hay một số thành phần nào đó, có tư cách đảm trách việc tông đồ. Thay vì khoe khoang sự sung mãn đó, các tu sĩ Đa minh phải hạ mình về điểm này, vì rất thường khi họ thiếu sót, đành rằng cơ chế Đa minh có khả năng giúp đạt tới sự sung mãn đó cách chắc chắn hơn, là những cơ chế của các bộ phận hỗ trợ hàng Giáo phẩm: Giáo sĩ địa phận hay các hội dòng, và đó là một cơ chế khá uyển chuyển để bảo đảm sự thành công này trong những thời đại khác nhau nhất. Nhưng về điều đó, chúng ta cũng phải chỉ nói một cách hết sức dè dặt mà thôi, vì cơ chế Đa minh chỉ mang kết quả trong những điều kiện mà nhiều lúc lại không có: những hoàn cảnh lịch sử không được làm xáo trộn cách nghiêm trọng hoạt động của cơ chế, trí tuệ và lòng quảng đại của các tu sĩ phải đáp ứng những đòi hỏi phức tạp và cao độ của cơ chế này. Vậy người ta thoáng thấy rằng, trong trường hợp Đa minh, những mức độ khác nhau trong việc thực hiện thì quan trọng hơn là trong các trường hợp khác: ở trạng thái sung mãn, tinh thần Đa minh, cá tính Đa minh, chính là tinh thần, là cá tính công giáo, và càng thuần túy Đa minh, thì linh đạo càng ít thuộc riêng một gia đình tu nào: bất cứ vị tông đồ chân chính nào cũng sẽ tìm lại được linh đạo ấy. Ngược lại, theo mức độ mà tinh thần này suy sụp, tương ứng với nhiều tình trạng thực tế khác nhau mà đủ mọi hoàn cảnh đã đẩy dòng vào, tùy theo thời gian và không gian, thì người ta hệ thống hóa một loạt nhiều linh đạo Đa minh rất rời rạc với nhau. Một cách ngây ngô, tất cả các linh đạo nầy đều cho rằng mình có tính cách giáo thuyết. Nhưng mỗi thứ là một sự thái hóa, ít nhiều nặng tình cảm hay thông thái rởm, hoặc là cả hai, của một khía cạnh nào đó mà thôi của sự sung mãn tông đồ, cũng như dòng Đa minh, hầu như ở khắp mọi nơi, chỉ có vẻ là một dòng tu riêng biệt, vả lại bộ mặt ấy rất khác, tùy theo nơi chốn. Thực ra, Dòng biến đổi các tu sĩ của mình thành những tông đồ trọn vẹn thực sự kết thân với những cá tính của mọi thứ tu sĩ tông đồ khác, nhiều hơn là với những anh em của họ trong Dòng. Trong mỗi cảnh huống, họ chỉ có thể tự biện minh như là Đa minh do những hoài vọng phiến diện.
Vậy chúng ta hãy thử ấn định đặc tính của sự sung mãn tông đồ này. Chúng ta không được ấn định cách tiên quyết, nhưng bằng cách tóm lược những kết luận xuất phát từ việc suy nghĩ về những dữ kiện cụ thể và đặc biệt về những nguồn gốc. Cách hay nhất để hiểu biết một bản chất là tìm xem nó phát sinh như thế nào. Ba con đường dẫn tới mầu nhiệm Đa minh, tới tinh thần Đa minh, giúp chúng ta đi sâu vào đó cách chắc chắn nhất.
CON ĐƯỜNG THỨ NHẤT.
Sự phát triển những dòng tu trong lịch sử.
Dòng Đa minh và mỗi tu sĩ của Dòng, thực hiện nơi mình những giai đoạn lớn kế tiếp của sự phát triển này. Mỗi một giai đoạn đã để lại như một lớp phù sa; lớp này được những lớp tiếp theo sửa lại, rồi những lớp tiếp theo sau nữa đem lại một ý nghĩa mới, nhưng lớp đầu luôn nhận diện được và luôn cần thiết cho toàn bộ.
Đời tu ẩn dật, chắc chắn, thì ít nhận ra được đối với một cái nhìn hời hợt. Đời tu ẩn dật, là cơ bản trong cấu trúc đan tu. Một tâm hồn Đa minh càng ý thức rõ và mạnh về phần nền tảng đời tu của mình, thì càng thấy nếp sống ẩn tu nguyên thủy là thiết yếu và cần thiết. Than ôi! sự lo âu về những thích nghi tông đồ nhất thời làm cho người ta mù quáng về phương diện này.
Nhưng tìm lại được tính cách cấp bách của nguồn gốc ẩn tu là một trong những kinh nghiệm hay đẹp của sự trưởng thành tông đồ, trong một đời sống thâm thúy hơn, toàn vẹn hơn, ít ảo tưởng hơn [1].
Những lớp phù sa thứ hai, rất phức tạp: đan tu, kinh sĩ, là thành phần ở giữa của thứ địa chất này, nơi đây tất cả hướng về và hình thành, từ đây mọi hành động tông đồ chỉ chiếu tỏa, mang tính cách tu trì truyền thống nhất: chúng ta nên cân nhắc kỷ những chữ tôi gạch ở dưới. Chính một cấu trúc đan tu đem lại một thực thể có tính cách tu trì nhất và truyền thống nhất cho nếp sống ẨN DẤU TRONG THIÊN CHÚA VỚI ĐỨC GIÊSU KITÔ cho nếp sống ẩn tu: Nếp sống ẩn tu nhì đó mà có hình thức huynh đệ hơn và quy củ. Hành động bên ngoài nhờ đó mà đắc thủ hai đức tính: là tiếng nói của sự thinh lặng nội vi, và là lời công bố về Mầu nhiệm được sống trong cử hành phụng vụ. Luôn có một cái gì thiếu sót trong lời giảng của vị tông đồ, nếu không được tập luyện trong thánh điện, trong ca triều, nội cấm đối với lời giảng của Giáo hội thì tương tự như việc tâm hồn cởi mở trong tiềm thức để hiệp thông với đời sống càn khôn và với ký ức tập thể của loài người đối với thi phú nhân loại. Dĩ nhiên, miễn là nếp sống, trong nội cấm, phụng vụ phải được sống cách sung mãn, có phẩm chất cao, và nhờ sự cởi mở đích thực là chiêm niệm, nếp sống ấy không ngớt làm tiêu tan não trạng thầy tu và giáo sĩ mà thế nào nó cũng tạo ra [2].
Cuối cùng, lớp phù sa đặc thù Đa minh là lớp biến đổi người đan tu và kinh sĩ thành người tông đồ, và điều này đòi hỏi chúng ta bây giờ phải chú ý chính xác hơn.
CON ĐƯỜNG THỨ HAI.
Những đổi mới riêng của thánh Đa minh trong lịch sử các Dòng tu.
Trong lịch sử đời tu, thánh Đa minh đem tới không dưới sáu đổi mới lớn, tất cả đều đầy ý nghĩa.
1. Ngài đã tổ chức, một chức năng tông đồ, tập đoàn các nhà thuyết giáo thành một dòng tu.
2. Làm thế, ngài đã tách việc tông đồ ra khỏi trách nhiệm mục vụ. Trước ngài, người ta không thể quan niệm việc rao giảng không phải là một bổn phận chính của vi "chăn chiên", của vị hướng dẫn và của vị nhờ các bí tích mà thánh hóa một thành phần nhất định của dân Chúa. Những vị rao giảng lưu động thế kỷ XII đã thực hiện việc phân tách này, nhưng chỉ tùy cơ hội, với những tu sĩ Đa minh, sự tách biệt đi vào cơ chế. Những chủ chăn bị quá bề bộn công việc. Chính thừa tác vụ của họ cũng kêu mời sự giúp đỡ của những vị tông đồ thoát ly gánh nặng mục vụ đó để chuyên lo một công trình rao giảng được chuẩn bị sâu sắc hơn, chuyên cần hơn, và được chu toàn với một trí óc thảnh thơi hơn.
3. Thánh Đa minh đã hội nhập việc "chuyên cần học hỏi chân lý của Thiên Chúa" vào những qui luật của Dòng, thay thế lao động chân tay. Ngài coi việc học hỏi đó là một trong ba phương tiện, trong Dòng Đa minh, không bao giờ được hủy bỏ hay thay đổi cách quan trọng; hai việc kia là việc cử hành long trọng Phụng vụ thánh và các lời khấn với những nếp sống đan tu.
4. Ngài đã biến phép chuẩn luật, được các bề trên ban cho theo muôn ngàn phương cách, thành một phương tiện bình thường và cần thiết để hành động. Phép chuẩn bù đắp sự cực kỳ phức tạp của những yếu tố đời tu theo quan niệm ngài phải hội nhập. Phép chuẩn giúp đời tu thích nghi với các hoàn cảnh và những đòi hỏi của sinh hoạt tông đồ. Chính nhờ phép chuẩn mà Dòng Đa minh có thể cùng một lúc duy trì những cơ cấu và những tục lệ tu trì, mà vẫn làm tất cả những công việc tông đồ [3], kể cả thời nay "thả dù" các tu sĩ vào những điều kiện mà tạm thời không thể sống đời đan tu, ví dụ, để trở thành những linh mục thợ thuyền.
5. Cũng chính thánh Đa minh đã đưa vào trong các dòng tu cái điều lệ đã trở thành thông thường này, là những vi phạm luật dòng, với tính cách là vi phạm luật dòng, không phải là tồi. Đành rằng phải coi đó là một biện pháp để trấn an một số lương tâm nhút nhát và trong lịch sử tiến bộ của lương tâm Kitô giáo, đó cũng là lúc mà lương tâm nhận ra, một cách sáng suốt rõ rệt, sự phân biệt, từ lâu bị lẫn lộn, của "tòa ngoài" (for exteme) và "tòa trong" (for inteme). Nhưng chưa hết. Đó còn là ý thức rất sắc bén về những đòi hỏi của hoạt động tông đồ, với những cái bất ngờ, những xung khắc giữa những bổn phận. Hoạt động tông đồ có thể buộc đi xa hơn các phép chuẩn của bề trên, vậy người tu sĩ, khi cần phải được hoàn toàn thoải mái, đặt đức ái lên trên việc tuân giữ luật dòng.
6. Đức khó nghèo hành khất có tính cách đặc thù Đa minh hơn là Phansinh, vì theo ý thánh Phanxicô, chỉ khi nào lao động không đủ nuôi sống thì mới nhờ đến việc hành khất. Thánh Đa minh đã trình bày ít nhất là bốn lần, những lối khác nhau để thể hiện đức khó nghèo chung. Ngài đã làm gương để cùng một lúc in sâu vào tâm trí các đệ tử một huyền bí về đức khó nghèo, cũng tuyệt đối, cũng hăng say bằng đức khó nghèo nơi thánh Phanxicô (mà ngài không có mượn của vị này, vì huyền bí đó triển nở ngay trước khi sáng lập hội dòng ở những mầm mống đầu tiên - từ lúc đi rao giảng tại Narbonne) và ý thức về tính cách tương đối rất lớn của thực hành cụ thể. Tương đối, nhưng với cái gì? Với hành động tông đồ, và về điểm này, có lẽ có nhiều điều phải nói. Điếu thiết yếu - điều này thời nào cũng vậy, và còn tồn tại sau khi Giáo hội đã hủy bỏ việc cấm đoán có những tài sản chung với qui chế hành khất - chính là những nhân viên tông đồ trông cậy vào những phương tiện cần thiết để sinh sống và sinh hoạt, như là phần tặng thêm mà Chúa đã hứa cho những kẻ mở nước Chúa trong thế gian. Họ phải rủ bỏ những âu lo về phương tiện sinh sống, còn hơn là đối với trách nhiệm mục vụ nữa, và phải tin rằng nếu họ phục vụ Giáo hội, thì dân Chúa sẽ bảo đảm đời sống của họ.
Có lẽ tính cách dân chủ của lối quản trị Dòng Đa minh có thể được coi như là việc canh tân thứ bảy của thánh Đa minh, mặc dầu những yếu tố của cơ chế đã có nơi những Dòng trước đó. Sự phối hợp các yếu tố này và tinh thần hướng dẫn việc ấy, có tính cách mới mẻ đến nỗi vào thế kỷ XIII nhiều công xã đã chọn hiến chương của các Anh em thuyết giáo làm mẫu mực cho hiến chương của họ hơn là hiến chương của các công xã khác.
CON ĐƯỜNG THỨ BA.
Những yếu tố lớn của đặc tính Đa minh.
Nếu trong lịch sử, chúng ta nhìn Dòng Đa minh phát sinh [4], chúng ta thấy trong đó như là những sức sống phát xuất từ thâm sâu của tâm hồn Kitô và thể hiện một thứ cá tính tôn giáo. Được đổi mới từ thời này đến thời kia, những sức sống ấy vẫn tái tạo cá tính ấy. Sau khi cân nhắc kỹ, phải gom góp những sức sống ấy lại làm ba khuynh hướng, có thể gọi là tinh thần Tin mừng hay tông đồ, tinh thần sống theo qui luật và đặc tính của mỗi thời đại lịch sử.
Kết hợp cả ba yếu tố đó lại là khá đáng sợ. Kết quả sẽ là một thứ hỗn hợp vang như sấm, là sứ điệp tiên tri. Tiếng vang lên, chính là lời rao giảng. Chỉ có thể duy trì cả ba yếu tố đó cùng một lúc, nếu ta sống khá cao, khá sâu và khá rộng. Bằng không thì thật là mạo hiểm. Đúng vậy, nguy cơ nghiêm trọng đến mức bắt buộc ta phải sống đời cao sâu như thế. Khi các tu sĩ Đa minh bỏ nề nếp sống đó, thì ta thấy gì ? Kẻ thì tỏ ra tầm thường do thói quen dùng những thỏa hiệp thấp kém và dễ dãi, thau thế những tổng hợp cao siêu; một số vì trung thành với khuynh hướng thứ hai, nên sốt sắng giữ một thứ qui luật chết, trong khi ngược lại ta thấy một số khác cư xử như những khối chất nổ, nguy hiểm; biết bao kẻ, vì muốn theo thời đại của mình mà tục hóa, tan biến ra mây khói!... Tuy nhiên, phải chấp nhận thực tế. Ngay từ lúc sáng lập Dòng Đa minh, ba khuynh hướng ấy gặp nhau, hòa hợp với nhau. Cả ba cùng thiết yếu.
Chúng tôi đã từng nhấn mạnh đến tinh thần đan tu và kinh sĩ. Chúng ta nên lưu ý, vào thời thánh Đa minh, chất men mà ta có thể gọi là tinh thần Tin mừng hay tinh thần tông đồ mãnh liệt như thế nào. Chất men ấy ảnh hưởng đến đời sống kinh sĩ. Mới đây các sử gia đã lưu ý đến "phong trào tông đồ". Phong trào này là một sự "trở về nguồn". Nó cố tìm lại sự trọn hảo của Giáo hội sơ khai. Những dòng tu thế kỷ XII, đặc biệt dòng Prémontré, không đủ sức để thu hút và hướng dẫn phong trào đó. Đây là một trào lưu cốt yếu là của giáo dân. Trong một xã hội tràn đầy lạm dụng, trào lưu ấy trở thành phản xã hội, phản giáo sĩ. Trào lưu ấy nhận thấy mình có một sức mạnh để lôi cuốn nhiều người khác: đó là nhu cầu phóng hỏa đốt cái thế giới mà, đối với chúng ta, từ ngữ "tông đồ" hàm chứa một cách chính đáng. Dưới quyền các chủ chăn chỉ biết lo cho mình mập béo, người nghèo, người nhỏ bé, những kẻ được Đức Kitô ưu đãi, giống như là những con chiên không chủ chăn. Họ trở nên những con mồi của đám cuồng tín. Tu sĩ Đa minh và Phansinh đã phát sinh từ cuộc khủng hoảng này. Ít nhất là trễ một thế kỷ, cho nên họ chỉ có thể sửa chữa tai họa được phần nào thôi. Thánh Phanxicô là người hèn mọn, người đơn sơ, người nghèo theo Tin mừng; ngài đã đưa tinh thần nghèo khó đáng sợ này đến mức giống Chúa Kitô cao nhất, đến nỗi ngài tìm lại được quân bình trong Giáo hội. Thánh Đa minh là người học giả, nhờ trung tín với Giáo hội, mà tìm lại được nơi Giáo hội tinh thần Tin mừng trường cửu. Ngài có tinh thần của Giáo hội một cách sung mãn và mảnh liệt, đến nỗi, thay vì ẩn nấp trong một pháo đài giáo sĩ, ngài thông cảm hết mình với hứng khởi sâu xa của những kẻ lạc đường, bất kể những lệch lạc phản giáo sĩ.
Nghèo khó và lòng nhiệt thành truyền bá, đó là hai đặc điểm rõ nhất của phong trào tông đồ. Về điểm thứ hai này, sự đối lập giữa thánh Phanxicô và thánh Đa minh, thì cũng rõ rệt như về điểm thứ nhất. Đối lập cũng là bổ sung cho nhau. Ý hướng của thánh Phanxicô không phải là nhiệt thành truyền bá. Đối với ngài, một cách rất đơn sơ, là sống theo Tin mừng, không "bình luận", vì một lòng mến đi tới điên rồ. Từ đó, tất nhiên ngài đi đến việc rao giảng, nhưng dưới hình thức của lời khuyên nhủ bộc phát, thân mật, xứng hợp với một người không phải là linh mục [5]. Nơi thánh Đa minh, ngược lại lòng nhiệt thành cứu các linh hồn là ưu tiên, đến nỗi dòng Đa minh phát sinh từ đó. Mà thánh nhân đòi hỏi phải trở nên giống Chúa Kitô, đặc biệt là đời sống nghèo khó.
Dù đáng thán phục đến đâu, linh đạo đan tu thế kỷ XII không phát ra âm vang độc đáo nhất của Tin mừng. Cái thiếu sót của linh đạo ấy là đã không hiểu vai trò số 1, thực sự có tính cách cấu trúc của giới răn mới ("Anh em hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương anh em" Ga 13,34; 15,12-17) trong tất cả nhiệm cuộc của Kitô giáo; đã không hiểu hướng đi và đặc thù mà giới luật này truyền cho tất cá các nhân đức đó; sau hết đã không hiểu giới luật ấy bắt buộc phải biến đổi thực sự thế giới. Lương tâm đã bừng dậy khắp nơi trong dân tín hữu từ tình trạng đó vào thời thánh Đa minh và thánh Phanxicô. Để có điều đó, có lẽ các trí óc đã phải nhờ ảnh hưởng của sự tiến bộ kinh tế mà mở mắt trước những thực tại xã hội, không còn chịu đựng sự tình dưới những ách bảo hộ phong kiến, hay trốn tránh cảnh trạng đó dưới ách bảo hộ của các đan viện. Dù sao, cái đầu mũi nhọn sắc bén, xây dựng, cách mạng của yếu tố có tính cách Tin mừng nhất trong Tin mừng, thì chính lúc đó, người ta mới bắt đầu thấy lại, cũng như vào thời sơ khai của Giáo hội, cái đầu mũi nhọn đó sắc bén như thế nào. Nói rằng ở nguồn của hai dòng anh em, Đa minh và Phansinh, chính nguồn Tin mừng thì vẫn chưa đủ: phải chính nguồn Tin mừng, nhưng đang vọt lên, trong cái tia mạnh nhất, và người ta lãnh đủ vào mặt, thật mạnh, thật mạnh. A! đón nhận, đón nhận những đòi hỏi của ân sủng Kitô! không phải bằng lời nói, nhưng trong thực tế, đến tận cuộc sống hàng ngày. Tin tưởng vào tinh thần Kitô, kể cả lúc nó có vẻ ương ngạnh, kể cả khi người ta thấy nó cũng như ai, nó có nguy cơ lầm vào những hình thức sai lạc! Tin tưởng vào tinh thần Kitô, khi người ta thấy quả thật nó lệch lạc nhiều kiểu! Đổi mới các bình chứa, khi rượu mới đang sôi sục! Nếu chúng ta không chỉ nói suông, thì phải thú nhận đó là một phép lạ cả thể. Phép lạ xảy ra ở nguồn mạch Đa minh. Phép lạ còn tái diễn ở những giai đoạn quan trọng của lịch sử Đa minh, mỗi lần mà dòng Đa minh nói người con này, hay người con nọ, không chỉ lo như là xử lý thường vụ, mà đã đáp lại những nhu cầu cấp thiết nhất của Giáo hội. Một Bartolomeo de Las Casas, một Savanarola, một Lacordaire không phải ngẫu nhiên mà họ là tu sĩ Đa minh.
Người ta có cảm tưởng rằng tinh thần Tin mừng, nếu thật sự là thế, cần nhờ đến đặc tính của mỗi thời đại, và đặc tính này phải hội nhập như là một thành phần thiết yếu của cá tính tông đồ. Muốn làm tông đồ, phải trở nên Hy lạp với người Hy lạp, Do thái với người Do thái, v.v... Chính ở đó là nguy cơ lớn: chính nguy cơ này làm cho tinh thần Tin mừng rất nguy hiểm.
Đức nghèo khó lúc đó, xuất hiện như là "bí tích" (dấu chỉ) của một sự từ bỏ xấu xa hơn, từ bỏ những tiến kiến mà người tông đồ đã lãnh nhận từ môi trường riêng của mình, để thực sự chia sẻ những lối suy tư và cảm nghiệm của những người mà mình phải mở cõi lòng để đón nhận chân lý Thiên Chúa. Trong chân lý trọn hảo này, họ phải nhận thấy lý riêng của họ được thể hiện. Tính cách "phổ quát" (công giáo) của đức tin, cụ thể là khả năng thực hiện cách trọn hảo những tiềm năng của con người, dù chúng có đa dạng thế nào đi nữa. Dòng Đa minh, mà phương châm của mỗi tu sĩ là "chân lý" phải giúp người ta cảm nghiệm mình được "biến đổi ra chính mình" nhờ cố gắng vượt thắng con người tầm thường của mình trong chân lý Kitô.
Việc tinh thần của nhiều thời đại lịch sử liên tiếp phải hội nhập như là một thành tố thiết yếu trong cá tính tông đồ, đấy là đặt ra những vấn đề đáng sợ. Vấn đề nghiêm trọng nhất hiện ra trước mắt những tu sĩ Đa minh điển hình nổi tiếng nhất minh họa điều đó: thánh Tôma Aquinô đã khai thác điều găng nhất, dễ nổ nhất trong tư tưởng mới mẻ của thời đại ngài, cha Lacordaire tin tưởng vào một vài chân lý hiện đại mà đa số những Kitô hữu lúc đó chỉ cảm thấy ghê tởm, cha Lagrande, trong lối chú giải những văn kiện chứa đựng Lời Chúa, đã thẳng thắn đóng vai trò phê bình sắc bén nhất. Trong mức độ mà cái được xem là "chân lý" của một thời đại, bị lẫn lộn, đối lập với "chân lý mạc khải", thì có nguy cơ nhiễm độc lớn lao là dường nào! Là những con người không thể tự phụ có những thiên khải dành cho các vị tiên tri, trong nhiều vấn đề khó khăn như thế, không thể tự phụ có đặc ân vô ngộ, mà chỉ người đại diện Chúa Giêsu Kitô chắc có thôi, và vị này cũng chỉ sử dụng đặc ân ấy trong những trường hợp ngoại lệ, họ phải trải qua những xung khắc nội tâm bi đát biết dường nào! Những xáo trộn nghiêm trọng biết bao được gợi lên trong lòng Giáo hội!
Trả lời rằng các vị đó chỉ cần ở yên trong những giới hạn của sứ mạng uỷ nhiệm, là công bố chân lý trường cửu thì vẫn chưa đủ: có điều là sứ mạng bao gồm việc họ phải hấp thụ chân lý trường cửu theo tinh thần các thời đại qua đi, hay đúng hơn là phải đồng hóa cách sinh động tinh thần thời đại với chân lý Thiên Chúa cho chính họ, hầu làm cho chân lý ấy được sáng tỏ mà kiến hiện trong thời đại của họ.
Cũng vẫn chưa đủ, nếu trả lời rằng các vị đó chỉ cần truyền bá giáo huấn của Giáo hội, mà Huấn quyền thực hành công việc đồng hóa này. Dĩ nhiên, những tông đồ chỉ là tông đồ ở mức họ tuân theo luật lệ của Huấn quyền và truyền bá những Giáo huấn. Nhưng có điều là Giáo hội không xem họ như là những người truyền bá mà thôi. Giáo hội muốn họ là một tập thể có thể nói là cao nhất trong các bậc "tôn sư". Tập thể các nhà thuyết giáo hay tập thể các tôn sư, những vị tôn sư thuộc rất nhiều cấp, dĩ nhiên, theo rất nhiều lối, dưới muôn hình thức ít nhiều được chấp thuận và ít nhiều thong dong, ít nhiều có tính cách lý thuyết và ít nhiều pha trộn với với "chất bột con người", các vị đó tại nhiệm sở của mình, mỗi người theo theo sở trường của mình, suy tư về những mối quan hệ giữa Chân lý trường cửu và những chân lý rải rác trong xã hội loài người. Nhờ vậy, một sinh hoạt tinh thần rộng lớn nâng đỡ chính Huấn quyền, chuẩn bị, thích nghi Huấn quyền để giải quyết những vấn đề cụ thể tuy theo nhu cầu của mỗi thời đại đòi hỏi. Thành công sẽ chỉ được bảo đảm, những nguy cơ chỉ sẽ được xa tránh, là nhờ một cấu trúc tư tưởng và cả một qui chế đời sống, vậy là "một nền đào tạo, cả ba thành phần được sắp xếp cách tuyệt hảo, mà sự hài hòa là đặc điểm của Dòng Đa minh.
Tóm lại, chúng tôi nghĩ rằng tinh thần của một người con thánh Đa minh là một thái độ cởi mở đón nhận toàn bộ chân lý Thiên Chúa, tất cả những gì thuộc về con người, tất cả những gì thuộc về Giáo hội, tất cả mọi phương tiện tông đồ, một khuynh hướng đạt đến sung mãn tôn đồ. Dĩ nhiên, trong cụ thể mỗi tu sĩ, hay mỗi cộng đoàn Đa minh hay mỗi thời đại lịch sử nữa đều có những giới hạn của mình, và trước tiên trong chính cái nhãn quan của mình. Những khuynh hướng, những thái độ cởi mở thì vô hạn, cũng không có nhận định về một diện nào của chân lý, về một khu vực nào hoạt động tông đồ, về một phương tiện nào. Một số tông đồ trong Giáo hội có ơn gọi nhấn mạnh về một điểm: tu sĩ Cát minh nhấn mạnh vê đời tu, tu sĩ Phan sinh về đức khó nghèo, tu sĩ Đa minh nhấn mạnh về cả ngàn điểm, tùy theo những ơn gọi riêng biệt của họ và tùy theo những hoàn cảnh khác nhau, cũng như (dĩ nhiên) tùy theo sự yếu đuối của họ. Nhưng không nên xem đó là nguyên tắc và qui tinh thần của thánh Đa minh về quan điểm đặc biệt này.
Từ bên ngoài, ba lý do khác nhau có thể làm người ta cho là có một linh đạo Đa minh - từ linh đạo ở đây không có nghĩa là một cung cách qui định mà bất cứ người nào thuộc gia đình Đa minh cũng phải rập theo, nhưng là một tinh thần và một lối sống, tự nhiên được ơn gọi hướng dẫn, được phát triển, được xác định bởi những tục lệ tự nhiên của gia đình mình.
1. Theo chiều hướng này, người ta tưởng khám phá được một linh đạo Đa minh khi nhận thấ có nhiều tu sĩ Đa minh ở mọi thời đại đã nhấn mạnh, và nhấn mạnh một cách có suy nghĩ kỹ càng về một điểm, khoe khoang trình độ trí thức của họ: về điểm này, có lẽ có nhiều điều phải nói, nhiều chi tiết phải xác định rõ ràng, nhiều ngộ nhận phải đánh tan. Nhưng tất cả những gì chúng tôi có thể nói, rốt cuộc đi tới kết luận: tiếc thay cho những tu sĩ Đa minh đó! Tiếc thay, trong mức độ mà điều họ đã khoe khoang như là khuynh hướng duy trí thức, chỉ là sự thiếu thận trọng của một "animus" nói nhảm hoài những tri giác của "anima" và những trực giác của "spiritus". trong mức độ một khuynh hướng tuy trí thức như thế, dựa vào những tư tưởng đã trở thành ngu xuẩn, càng ngu xuẩn vì chúng càng đứng về mặt lý luận - trong mức độ của những tác hại của nó, nếp sống các tâm hồn đã bị giam hãm trong một linh đạo riêng tư.
2. Nhiều người nghĩ rằng tinh thần tông đồ, đủ hướng về sự sung mãn, vẫn còn là một thứ tinh thần trong số những tinh thần khác. Ngược lại, chúng tôi xác tín rằng tinh thần tông đồ là sự sung mãn của tinh thần Kitô.
3. Sau cùng, một số người nghĩ rằng tinh thần sống theo qui luật, cấu trúc đan tu và sự gắn bó bới giáo thuyết của thánh Tôma xác định một mẫu đời sống tông đồ đặc biệt trong số các mẩu khác. Chúng tôi trả lời rằng đúng là như vậy, trong mức độ mà tính cách đan tu và giáo thuyết của thánh Tôma là một văn tự bị rút mất hết tinh thần, nhưng ngược lại, nếu cởi mở và không khép kín, thì hai yếu tố trên cần thiết cho sự sung mãn, và nếu không có hai yếu tố đó, thì các tông đồ trong Giáo hội thiếu mất một cái gì cực kỳ quí báu. Tuy nhiên, một xác quyết như thế không thể chứng minh dựa vào khái niệm, xác quyết đó là một kết luận rút ra từ một kinh nghiệm sống động. Rủi thay, đó là kinh nghiệm về một lời hứa, về một đòi hỏi thâm sâu. Nhưng còn phải giữ lời hứa, còn phải thể hiện sự đòi hỏi ấy một cách hiển nhiên. Tu sĩ Đa minh chúng tôi luôn thiếu sót cách nào đó trong hai việc ấy. Vậy chúng tôi đáng được người ta gán cho chúng tôi một linh đạo riêng biệt. Nhưng khi chúng tôi đọc bản trình bày linh đạo ấy, dù được một người anh em chúng tôi soạn, chúng tôi cũng tưởng mình đang soi mặt trong một tấm gương làm méo mó hình ảnh.
[1] Cảm thức về sự "tuyệt đối" của Thiên Chúa, một mình Ngài là đủ. Tương ứng xây dựng con người do việc xác quyết những yếu tố thiết yếu của nó. (Câu "sống với mình" của thánh Grégorio nói về thánh Benoit). Cần thiết phải hiệp thông với người ta trong Thiên Chúa, chứ không phải trong cái phù vân; phẩm chất siêu nhiên của hành động, vốn chỉ có giá trị là nhờ chiều kích cao siêu, giải tỏa về mặt tông đồ khỏi "trách nhiệm các linh hồn", càng lo cứu rỗi nó thì thì càng phải thoát khỏi "thế hệ độc ác này" (Act II,40), ẩn náu nơi Thiên Chúa và chỉ đi ra vì một "sứ mạng", chứ không phải vì ân cần tự nhiên, trú ẩn trong những thất bại, thử thách, thất vọng khi cảm nghiệm thiếu thốn bản thân và những hiểu lầm không thể gỡ (cảm nghiệm này gia tăng khi thực sự tiếp xúc với những cảnh huống của con người, lúc đó thực sự chỉ có cầu cứu với Thiên Chúa mà thôi. Lúc đó, người ta hiểu câu: "Chỉ nói với Chúa hay về Chúa" của thánh Đaminh và cuộc sống của Ngài trong cô quạnh.
[2] Có phải nói rõ hơn nữa không? Để nâng đỡ đời sống tông đồ, chắc chắn là người ta phải chuộng một chế độ đơn giản hơn, nhưng được sống một cách đàng hoàng hơn là chế độ tuyệt diệu của đan tu và kinh sĩ, khi chế độ này được sống một cách cẩu thả, hay chỉ còn văn tự mà không có tinh thần.
[3] Không nên phân biệt một số việc tông đồ mà do bản chất là có tính cách Đaminh, và một số khác thì không. Bất cứ hoạt động nào thực sự có quyền mang danh nghĩa "tông đồ" - nghĩa là thông truyền chân lý của Thiên Chúa, cách này hay cách khác - thì thuộc thẩm quyền của Dòng Đaminh.
Không phải vì nguyên tắc, mà vì không thể làm tất cả được, nên người ta bắt buộc phải chọn hình thức tông đồ này hơn là hình thức khác. Có những tu sĩ Đaminh, một cách chính đáng, phải đảm trách những hoạt động chuẩn bị từ rất xa môi trường cho việc rao giảng Tin mừng: như vậy cũng là việc tông đồ rồi, theo kiểu mà các hình thức hộ giáo khác nhau, dù thấp kém đến đâu do yêu cầu của môi trường, vẫn là những chức năng của thần học.
[4] Mandonnet, Vicaire et Ladner, Saint Dominique, 2 vol. - Xem bài S. Dominique, do cha Féret, trong Bách khoa Catholicisme.
[5] Dòng Phansinh chỉ lãnh nhận trách vụ giảng dạy chân lý đức tin, vào năm 1232, theo gương các anh em thuyết giáo.